GIẤY PHÉP SẢN XUẤT PHÂN BÓN Các đội QLTT còn phát hiện hàng loạt cửa hàng tự in tem hợp quy để qua mặt các cơ quan chức năng
I. giấy phép sản xuất phân bón Với Cty CP đầu tư thương mại ôtô quốc tế và Cty CP truyền thông OXY do đơn vị mới được cấp giấy hợp quy cuối năm 2012 nên chưa tổ chức sản xuất và chưa có sản phẩm hợp quy cung cấp cho thị trường
Trước sự tàn phá của cơn bão số 8 và số 10, Tổng CTCP Phân bón và hóa chất Dầu khíDPM đã triển khai khẩn cấp chương trình hỗ trợ cho những gia đình và học sinh tại miền Trung và Tây Nguyên bị thiệt hại nặng nề bởi 2 cơn bão trên. Tồng trị giá của chương trình là 2,5 tỷ đồng, trong đó, cán bộ nhân viên của DPM ủng hộ 400 triệu đồng. Theo đó, DPM cùng 2 đơn vị thành viên tại miền Bắc và miền Trung sẽ hỗ trợ gần 200 tấn phân bón NPK Phú Mỹ, trị giá gần 2 tỷ đồng cho gần 8.000 hộ gia đình nông dân để tái sản xuất vụ Đông Xuân; hỗ trợ trực tiếp 100 triệu đồng tiền mặt cho những gia đình bị nạn; 80.000 cuốn vở, trị giá 400 triệu đồng cho các em học sinh thuộc vùng bão lũ. Đây là chương trình cứu trợ nằm trong chuỗi hoạt động an sinh xã hội trực tiếp hướng đến bà con nông dân, đối tượng chính sách thông qua hình thức tặng phân bón, hỗ trợ con em nông dân nghèo đến trường. Kể từ khi thành lập đến nay, DPM đã đầu tư trên 600 tỷ đồng cho các chương trình an sinh xã hội. Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí PVFCCo bắt đầu tung ra thị trường dòng sản phẩm mới - phân tổng hợp NPK bên cạnh sản phẩm truyền thống là phân urê Đạm Phú Mỹ. Dự kiến sản phẩm sẽ được tung ra thị trường vào giữa tháng 6/2011, với lượng tiêu thụ vào khoảng 36.500 tấn. CôngThương - Sản phẩm mới với tên thương mại là NPK Phú Mỹ” có công thức 16-16-8-13S, đóng bao theo trọng lượng 50 kg/bao, được sản xuất theo công nghệ tiên tiến, kết hợp 3 nguyên tố Đạm N, Lân P và Kali K có bổ sung nguyên tố lưu huỳnh S trong 1 hạt sản phẩm, ưu việt hơn nhiều so với sản xuất phân NPK bằng cách trộn lẫn 3 loại phân riêng rẽ, thường được gọi là NPK ba màu. Việc tung sản phẩm NPK Phú Mỹ” cũng là bước đầu tiên trong quá trình chuẩn bị thị trường cho dãy sản phẩm của Nhà máy NPK do tổng công ty làm chủ đầu tư xây dựng tại khu Công nghiệp Phú Mỹ 1, bên cạnh Nhà máy Đạm Phú Mỹ. Nhà máy NPK Phú Mỹ có công suất hợp quy, phân bón npk 400.000 tấn, tổng vốn đầu tư khoảng 63 triệu USD dự kiến sẽ khởi công trong quý III/2011và hoàn thành vào năm 2013..
Nói về hiệu quả của các lớp tập huấn và dịch vụ trả chậm phân bón, ông Nguyễn Tuấn Việt - Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Hưng Yên cho biết: Việc làm trên vừa giúp nâng cao kiến thức, hỗ trợ khó khăn về vốn, vừa tạo điều kiện cho nông dân có loại phân tốt bón cho cây trồng nhằm tăng năng suất, giảm chi phí. Do có ý nghĩa như vậy nên góp phần thúc đẩy phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi” và qua hoạt động các hội viên nông dân gắn kết với nhau hơn”. Nông dân Hưng Yên cũng như nông dân nhiều nơi sự hiểu biết về thâm canh cây trồng đã có tiến bộ nhưng có nhiều việc vẫn làm theo tập quán như cấy giống lúa đã bị thoái hóa; bón phân đơn- đạm, lân, kali; bón đạm muộn; hàng vụ phun thuốc BVTV đại trà: 2-3 lượt không phải là hiếm. Để khắc phục tình trạng trên, ông Nguyễn Xuân Vượng- Chủ tịch Hội Nông dân huyện Phù Cừ: Phân đa yếu tố NPK là một tiến bộ kỹ thuật về phân bón vì ngoài nó có đạm, lân, kali còn có các chất trung lượng và vi lượng, nghĩa là nó có đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng. Các chất dinh dưỡng trên lại được phối trộn theo yêu cầu của từng loại cây và từng giai đoạn sinh trưởng của cây. Dùng phân NPK còn giảm số lần bón tức là giảm công vì cây lúa chỉ cần bón 2 lần- bón thúc và bón lót. Qua lớp tập huấn học viên biết được điều này sẽ dần xóa bỏ được tập quán bón phân đơn và khắc phục được tình trạng bón phân sai kỹ thuật mà lâu nay đã mắc phải. Ngoài ra qua các lớp học nông dân còn biết được nhiều điều bổ ích khác nên họ tham gia tập huấn đông ngoài dự kiến”. Có một nguyên nhân các lớp tập huấn đông đúc và sôi nổi là các giảng viên chú ý liên hệ với thực tế bằng cách khơi gợi học viên tự nêu câu hỏi và tự trả lời. Ví dụ, tại sao gia đình tôi bón phân Văn Điển cho cây nhãn năm sau đào lên thấy vẫn còn phân lân? Đó là vì trong phân NPK Văn Điển có thành phần chủ yếu là lân. Lân Văn Điển không tan trong nước mà chỉ tan trong dung dịch axit do rễ cây tiết ra nên cây cần đến đâu phân hòa tan đến đó, phân còn để dành cho vụ sau. Hoặc câu hỏi chỉ dùng phân NPK Văn Điển thúc hoặc lót có được không? Dùng như vậy phải bón bổ xung thêm đạm, lân, kali. Tuy nhiên bón thêm các loại phân trên bao nhiêu sẽ khó tính nên tốt nhất là nên bón đồng bộ cả phân đa yếu tố NPK lót và thúc. Hoặc câu hỏi phân NPK Văn Điển rất tốt nhưng giá vẫn còn cao? Để biết các loại phân NPK đắt hay rẻ phải biết cách tính- lấy tổng số tiền chia cho tổng phần trăm các chất dinh dưỡng đạm, lân, kali, Ca, Mg, S… cộng lại, sẽ biết 1% giá bao nhiêu. Nếu biết tính toán như trên và xem hiệu quả nhiều mặt như tăng năng suất, giảm số lần phun thuốc, cải tạo đất thì phân Văn Điển giá cả rất hợp lý. Và qua thực tế bón phân ai có nhận xét tốt, xấu thế nào đều có quyền nêu ra để thảo luận. Ông Trần Văn Phan xã Đoàn Đào, huyện Phù Cừ nhận xét: Chúng tôi chuộng phân Văn Điển vì vụ xuân năm nay gặp dông tố, bón phân Văn Điển lúa cứng cây, chống đổ, chống chụi sâu bệnh tốt. Bón phân đơn hoặc phân NPK khác lúa đổ nhiều mất công buộc, giảm năng suất. Bón NPK Văn Điển cho nhãn lá to dày, màu xanh sáng, hạn chế sâu bệnh, hạn chế rụng quả, quả to mẫm, quả màu đẹp, ăn ngọt đậm, hương thơm”. Cũng như nhiều huyện khác Hội Nông dân huyện Ân Thi cũng nô nức đi dự lớp tập huấn hội trường của xã chật cứng người và không khí học tập cũng rất sôi nổi. Bà Nguyễn Thị Lạng - Chủ tịch Hội Nông dân huyện Ân Thi chia sẻ: Rất nhiều xã đăng ký xin lớp tập huấn nhưng kế hoạch số lớp có hạn nên chúng tôi phải tính toán hợp lý. Từ xã này mê phân Văn Điển lan sang xã khác, từ người này mê lan sang người khác”. Ngoài lãnh đạo Hội Nông dân từ tỉnh, huyện đến các xã, thôn quan tâm tới các lớp tập huấn, lãnh đạo đảng, chính quyền và các đoàn thể của các xã cũng rất đồng tình ủng hộ và hưởng ứng. Ông Vũ Văn Tứ- Phó Bí thư Đảng ủy xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi rất tâm đắc với công việc trên: Qua lớp tập huấn nông dân rất phấn khởi vì những kiến thức mới được bổ xung, đề nghị các hội viên tiếp tục tuyên truyền cho gia đình, cho chi hội và sẽ góp phần cho sản xuất nông nghiệp đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao”. Vận chuyển đạm Phú Mỹ đưa đi tiêu thị. Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN Để tìm hiểu rõ nguyên nhân dẫn tới tình trạng tồn kho, những giải pháp tháo gỡ khó khăn nhằm thúc đẩy thị trường tiêu thụ phân bón, phóng viên TTXVN đã phỏng vấn ông Nguyễn Văn Thanh, Cục trưởng Cục Hóa Chất Bộ Công Thương. - Ông có thể cho biết tình hình sản xuất phân bón của toàn ngành hóa chất trong 7 tháng qua? Ông Nguyễn Văn Thanh: Có thể tóm tắt bởi những con số như sau, ước đến hết 7 tháng năm 2014, toàn ngành đạt sản lượng khoảng 950.000 tấn phân lân, 157 nghìn tấn phân DAP, 1,03 triệu tấn phân NPK và 1,2 triệu tấn phân urê. So với mục tiêu và kế hoạch năm đã đề ra, sản xuất phân lân đạt 61%, phân DAP đạt 51%, phân NPK đạt 52% và phân urê đạt khoảng 50%. Trong thời gian qua, ngành sản xuất phân bón đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều dự án trọng điểm của ngành đã hoàn thành và đi vào hoạt động, góp phần chủ động nguồn cung, đáp ứng đủ cho nhu cầu của sản xuất nông nghiệp và từng bước hướng tới xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp đã và đang tạo dựng được những thương hiệu uy tín trên thị trường trong nước và trong khu vực như Nhà máy Đạm Phú Mỹ công suất 800.000 tấn/năm, Nhà máy sản xuất phân urê Cà Mau công suất 800.000 tấn/năm, Nhà máy phân urê Ninh Bình công suất 560 nghìn tấn/năm, Nhà máy Đạm Hà Bắc, Nhà máy DAP Đình Vũ, Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao.... - Nếu đủ cung cấp cho thị trường trong nước, vậy tại sao vẫn phải nhập khẩu phân bón với lượng lớn như vậy, thưa ông? Ông Nguyễn Văn Thanh: Theo Tổng cục Hải quan, ước tính kim ngạch nhập khẩu phân bón từ đầu năm 2014 tới nay đạt trên 2,1 triệu tấn với tổng giá trị 675 triệu USD, giảm cả về lượng và giá trị khoảng 14,6% so với cùng kỳ năm 2013. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phân SA và kali, vì nước ta không có điều kiện thuận lợi về nguồn nguyên liệu để đầu tư sản xuất 2 loại phân này. Hiện tại, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đang triển khai dự án Khai thác và chế biến muối mỏ kali tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với công suất 320 nghìn tấn phân kali/năm, sau đó sẽ tiếp tục nghiên cứu để mở rộng, nâng công suất lên 700 nghìn tấn/năm. Dự án sau khi hoàn thành sẽ góp phần đáng kể nhằm đáp ứng nhu cầu phân kali trong sản xuất nông nghiệp. - Chỉ số tồn kho phân bón nói trên cho thấy một áp lực lớn đối với ngành từ nay tới cuối năm, vậy nguyên nhân tồn kho là do đâu thưa ông? Ông Nguyễn Văn Thanh: Con số tồn kho gần 500.000 tấn phân bón thực sự là nỗi lo lớn của ngành hóa chất. Có thể phân tích sơ bộ một số nguyên nhân như sau. Năm 2013, do Trung Quốc áp dụng chính sách giảm giá, giảm thuế xuất khẩu để đẩy mạnh tiêu thụ phân bón. Nên vì lợi ích thương mại, rất nhiều doanh nghiệp đã nhập khẩu phân bón với số lượng lớn. Lượng phân urê, DAP nhập khẩu tăng đột biến so với năm 2012. Điều này dẫn tới lượng phân bón tồn kho tăng cao, hợp quy, phân bón npk việc tiêu thụ sản phẩm này trong nước gặp nhiều khó khăn. Đơn cử như để duy trì hoạt động, năm 2013 Nhà máy DAP Đình Vũ đã phải thu hẹp sản xuất và sản lượng chỉ đạt trên 65% công suất thiết kế. Năm 2014, Việt Nam đã nhập khẩu từ Trung Quốc trên 905 nghìn tấn phân bón, trị giá khoảng 269 triệu USD, chiếm tỷ trọng gần 49% tổng lượng phân bón nhập khẩu. Một lý do khác là cũng trong năm nay, nhiều dự án cải tạo và mở rộng công suất của các nhà máy sản xuất phân bón đã hoàn thành và đi vào hoạt động. Như phân đạm, tổng công suất thiết kế của các nhà máy sản xuất hiện đạt hơn 2,3 triệu tấn, sau khi dự án của Nhà máy Đạm Hà Bắc hoàn thành đã tăng tổng năng lực sản xuất trong nước lên 2,6 triệu tấn. Ngoài ra, tổng công suất phân supe lân hiện khoảng 1,25 triệu tấn/năm dự kiến cũng sẽ tăng 1,35 triệu tấn/năm vào năm 2015. Phân bón NPK cũng đang được hàng trăm cơ sở sản xuất với quy mô từ vài nghìn đến 600 nghìn tấn/năm. Tổng công suất phân lân hiện đạt 3,8 triệu tấn/năm. Còn một sức ép khác dẫn tới tồn kho nữa là tình trạng sản xuất, kinh doanh phân bón giả, phân bón kém chất lượng và việc thẩm lậu phân bón qua biên mậu, cửa khẩu phụ phía giáp biên giới Trung Quốc. Mặc dù, từ ngày 1/1 năm nay, nhà nước đã điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu từ 0 lên 3% để tăng cường kiểm soát phân bón nhập khẩu, song dường như chưa đủ sức nặng để hạn chế nhập siêu. - Để giải quyết nửa triệu tấn phân bón tồn kho, từ nay tới cuối năm ngànhhóa chất sẽ cần phải thực hiện những giải pháp gì? Ông Nguyễn Văn Thanh: Hiện nay, về cơ bản các Bộ, ngành đã đồng thuận với việc tăng thuế suất thuế nhập khẩu theo dự kiến của Bộ Tài chính, như phân bón urê, phân DAP tăng từ 3% lên 6% nhằm khuyến khích sản xuất trong nước, tăng tiêu thụ, giảm tồn kho, đồng thời góp phần hạn chế nhập siêu và tiết kiệm ngoại tệ. Ngoài ra, Bộ Công Thương đang nghiên cứu, đề xuất để áp dụng một số giải pháp hành chính và kỹ thuật nhằm quản lý chặt chẽ và hạn chế việc nhập khẩu phân bón qua biên mậu. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương sẽ sớm hoàn thiện khung pháp lý với việc xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành Nghị định số 202/2013/NĐ-CP về phân bón vô cơ và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón vô cơ. Dự kiến ban hành trong tháng 8/2014 nhằm tạo căn cứ pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về phân bón, góp phần hạn chế tình trạng phân bón giả, phân bón kém chất lượng lưu thông trên thị trường. Bộ Công Thương cũng rà soát các quy định về xử phạt vi phạm phạm hành chính trong lĩnh vực phân bón tại Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, đồng thời nghiên cứu điều chỉnh mức xử phạt để đảm bảo tính răn đe của quy định xử phạt. - Trân trọng cảm ơn ông!. Tổng biên tập: Nguyễn Đức DũngGiấy phép xuất bản số: 496/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 09-11-2007Bản quyền thuộc về Báo Công an TP Đà NẵngGhi rõ nguồn "Báo Công an TP Đà Nẵng- CADN Online" khi phát hành lại thông tin từ website này. Đại tá Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng phòng An ninh kinh tế PA81 Công an TP Hà Nội cho biết, chiều 9/5, đơn vị này đã phối hợp với Đội quản lý thị trường QLTT cơ động số 17, thuộc Chi cục QLTT Hà Nội phát hiện và bắt quả tang vụ sản xuất phân bón NPK giả tại xưởng sản xuất của Công ty CP Đầu tư khoa học kỹ thuật và công nghệ Việt Pháp tại khu tập thể Công trình đường thủy 1, thôn 3 xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Tại thời điểm kiểm tra, ở xưởng này đang sản xuất, đóng gói sản phẩm NPK và vận chuyển lên xe ôtô đưa đi tiêu thụ. Số phân bón tổng hợp NPK thành phẩm giả bị phát hiện khoảng 60 tấn. Theo lời khai của ông Nguyễn Văn Thư, quản đốc tại xưởng nêu trên, cơ sở này bắt đầu sản xuất phân bón giả từ năm 2011 đến nay. Số lượng phân giả NPK bán ra thị trường hàng trăm tấn, chủ yếu bán cho các địa phương lân cận Hà Nội như: Hà Nam , Nam Định, Ninh Bình… Giá bán loại phân NPK giả loại 800.000 đồng/tấn và loại tinh xảo hơn, có nhiều màu sắc với giá 3.200.000 đồng/tấn. Công ty khoán” cho nhân viên bán được hơn thì hưởng, còn bán giá thấp hơn thì phải bù. Để phát hiện, bắt giữ vụ sản xuất phân NPK giả nghiêm trọng này, PA81, Công an TP Hà Nội có sự phối hợp với QLTT lấy mẫu các loại phân NPK giả đã bán ra thị trường, đồng thời tiến hành giám định tại Viện Khoa học hình sự Bộ Công an. Kết quả, các mẫu phân bón giả nêu trên có các thành phần cơ bản chính không đạt yêu cầu như trên vỏ nhãn bao bì mà thành phần chủ yếu là bột đá vôi .. Infotv.vn - Mặc dù lượng phân bón tồn kho còn khá lớn và chưa vào tháng cao điểm của vụ lúa hè thu nhưng giá phân bón tại thị trường trong nước vẫn có xu hướng tăng do ảnh hưởng giá phân bón thế giới tăng và giá than cục trong nước bán cho các hộ sản xuất phân bón tăng.Trong 4 tháng đầu năm, sản lượng phân đạm ure ước đạt 309,8 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2008; phân lân ước đạt 479,2 nghìn tấn và phân bón NPK đạt 459,2 nghìn tấn. Hiện giá phân urê nhập khẩu và urê Phú Mỹ có mức 6.500-6.800đồng/kg, tăng 500 đồng/kg so với tháng đầu năm. Giá phân kali có mức13.000 đồng/kg. Giá các loại phân bón NPK, SA, DAP cũng tăng trên 200 đồng/kg.Vừa qua, sau thời gian chạy thử và hiệu chỉnh Nhà máy phân bón DAP Đình Vũ Hải Phòng đã cho ra lò những tấn phân bón DAP đầu tiên đạt chất lượng tốt. Dự kiến năm 2009 nhà máy sẽ sản xuất 150-160 ngàn tấn, góp phần đáp ứng một phần nhu cầu về phân bón trong nước, giảm lượng phân bón nhập khẩu. Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho các nhà sản xuất phân bón trong nước, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 76/TT-BTC ngày 20/4/2009 điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu ưu đãi từ 3% - 5% lên 6,5% với phân khoáng, phân hóa học có chứa phosphate…Do nhu cầu sử dụng phân bón cho vụ hè thu sắp tới rất lớn, khoảng 650 - 700 nghìn tấn, lại tập trung trong thời gian ngắn nên dự báo giá sẽ tiếp tục tăng nhẹ và lượng tồn kho sẽ được huy động về cơ bản. Tuy nhiên, do giá nông sản thời gian qua xuống thấp, nên tiêu thụ phân bón trong nước trầm lắng, tồn kho tăng, sản xuất phân lân và phân NPK tháng 7 tiếp tục giảm.Để bảo đảm đủ phân bón cho vụ hè thu và có sản phẩm gối đầu cho vụ mùa ở miền Bắc, các doanh nghiệp phân bón vẫn phải duy trì và đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất phân đạm u-rê; đồng thời tiếp tục tham gia cùng Chính phủ thực hiện tốt chính sách kích cầu đầu tư, tiêu dùng, duy trì mức tăng trưởng kinh tế; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hướng tới xuất khẩu phân bón sang các thị trường tiềm năng trong khu vực ASEAN và châu Á như Lào, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Hàn Quốc, Nhật Bản… Theo Mai LinhHà Nội mới. Hạt bí xanh có thể nẩy mầm ở nhiệt độ 10 - 15 độ C, nhưng thích hợp nhất là 25 độ C. Ở giai đoạn cây con vườn ươm cây bí xanh yêu cầu nhiệt độ từ 20 - 22 độ C. Nhiệt độ thích hợp nhất để cây bí xanh sinh trưởng và phát triển tốt là 25 - 27 độ C. Bí xanh có các chủng loại như bí Trạch, bí Bầu, bí Lông. Yêu cầu về đất và dinh dưỡng Có thể trồng bí xanh trên nhiều loại đất, tốt nhất là đất phù sa, thịt nhẹ, pH = 6,5 - 8,0. Cây bí xanh yêu cầu độ ẩm đất ở thời kỳ từ cây con đến ra hoa là 65 - 70%, ở thời kỳ ra hoa kết quả là 70 - 80%. Bí xanh chịu úng kém, khi gặp độ ẩm lớn do mưa nhiều hoặc do tưới không hợp lý thì sẽ bị vàng lá, rụng hoa, rụng quả, ảnh hưởng xấu đến năng suất. Sử dụng NPK-S Lâm Thao bón cho bí xanh hiệu quả Thời vụ và kỹ thuật trồng Có ba thời vụ: Xuân hè, hè thu và vụ đông sớm. Vụ xuân hè gieo hạt từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Xử lý hạt bằng nước nóng 40 - 45 độ C trong thời gian khoảng từ 2 - 3 giờ đến 10 - 12 giờ; khi hạt nứt nanh thì đêm gieo vào bầu ươm. Khi cây có 1 - 2 lá thật thì đem trồng vào hốc ngoài đồng ruộng. Vụ hè thu gieo trồng từ tháng 4, tháng 5 hoặc sau khi gặt lúa xuân. Vụ đông sớm gieo hạt vào bầu, trồng bầu ra ruộng ngay sau khi gặt lúa mùa vào khoảng cuối tháng 9, đầu tháng 10. Làm đất, lên luống cao 20 cm nếu trồng vụ hè thu hoặc xuân hè muộn có mưa rào nhiều thì lên luống cao 25 - 35 cm, rãnh luống rộng 30 cm, mặt luống rộng 1,2 - 1,3 m nếu làm giàn. Trồng 2 hàng dọc theo luống, hàng cách hàng 60 cm, hốc cách hốc 40 - 50 cm. Các hốc phân bố trên luống theo kiểu nanh sấu. Mỗi hốc trồng 1 cây, tương ứng với mật độ 20 - 25 nghìn cây/ha. Nếu không làm giàn, để cây bò trên mặt luống thì lên luống rộng 3,5 m; trồng 2 hàng giữa luống, cách mép luống 15 - 20 cm, hàng cách hàng 2,5 - 3,0 m, hốc cách hốc 40 - 50 cm. Để cho bí xanh bò trên mặt luống và để đỡ quả thì cần có rơm, rạ phủ trên mặt luống. Đào hốc, bón phân lót, trộn đều với đất, phủ lớp đất mỏng lên trên rồi trồng, tưới nước duy trì đủ độ ẩm cho cây con. Khi thân cây bí bò ra dài 50 cm thì lấp đất lên các vị trí các đốt, cứ cách 1 - 2 đốt lại lấp đất lên 1 đốt để cây ra nhiều rễ bất định, hướng cho ngọn bí bò từ hốc này sang hốc kia. Sau đó mới nương dây cho bí bò lên giàn, buộc thân cây bí vào giàn bằng lạt mềm hoặc bằng rơm rạ, buộc ở vị trí dưới nách lá. Sử dụng phân bón Lâm Thao NPK-S cho cây bí xanh Bón phân cho bí xanh vào các thời kỳ sau: Bón lót - trước khi trồng; Bón thúc lần 1 khi cây con có 5 - 7 lá thật; Bón thúc lần 2 khi cây chuẩn bị ra hoa, sau khi cây ra tua, buộc cây vào dàn; Bón thúc lần 3 khi cây hình thành quả. Lượng phân bón tính trên 1 ha như sau: - Bón lót: 20 - 25 tấn phân chuồng hoai ; 420 - 500 kg phân NPK-S: 5.10.3-8 - Bón thúc 1, 2, 3 mỗi lần bón 280 - 310 kg phân NPK-S: 12.5.10-14 hoặc NPK-S 10.5.10.5 Lượng phân bón tính trên 1 sào Bắc bộ 360 m2 như sau: - Bón lót: 720 - 900 kg phân chuồng hoai ; 15 - 18 kg phân NPK-S: 5.10.3-8 - Bón thúc 1, 2, 3 mỗi lần bón 10 - 11 kg phân NPK-S: 12.5.10-14 hoặc NPK-S 10.5.10.5. Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam Nguyễn Hạc Thúy cho biết, nhu cầu phân bón cho vụ Đông xuân sắp tới vào khoảng 700- 800 ngàn tấn các loại. Hiện các doanh nghiệp trong nước đã chuẩn bị tương đối đầy đủ để đáp ứng nhu cầu của thị trường.Ông có thể lý giải tình hình giá phân bón thế giới cũng như trong nước tăng đột ngột và nhanh trong thời gian vừa qua?Ông Nguyễn Hạc Thúy: Vừa qua, trong một thời gian rất ngắn, giá phân ure trên thế giới đã tăng bình quân 60-70 USD/tấn và phân DAP tăng 70-80USD/tấn so với tháng 8.Có 4 nguyên nhân khiến giá phân bón trong nước và thế giới tăng. Trước hết, ngày 16/9 vừa qua, Trung Quốc đã tăng thuế xuất khẩu phân bón từ 10% đến 110%.Thứ hai, thông thường cuối năm hầu hết các nhà máy sản xuất phân bón được đưa vào bảo dưỡng, nhưng điểm khác biệt của năm nay là các nhà máy được bảo dưỡng dồn vào một dịp chứ không rải rác như các năm, khiến lượng phân bón sản xuất ra thị trường ít đi.Thêm vào đó, vừa qua là giai đoạn thời vụ nên nhu cầu phân bón tăng mạnh .Cuối cùng, có thể kể đến yếu tố tâm lý, khi người nông dân thấy giá phân bón tăng, có tâm lý muốn mua dự trữ đề phòng tăng giá như năm 2008.Mức tăng như vậy ảnh hưởng thế nào đối với người nông dân, thưa ông?Ông Nguyễn Hạc Thúy: Hiện giá phân bón bình quân chung của cả nước là từ 6.900 đến 7.000 đồng/kg, trong khi giá lúa bán bình quân từ 4.900 đến 5.000 đồng/kg. Với quan niệm hai thóc một ure giá 1 kg phân urê chưa bằng 2 kg thóc, chênh lệch trên vẫn cho phép người nông dân có lời, vì vậy việc giá phân bón có nóng” nhưng chưa tới mức báo động.Theo ông, liệu giá phân bón có tiếp tục tăng nữa không ?Ông Nguyễn Hạc Thúy: Theo thông tin chúng tôi nắm được, ngày 15/10 này, Trung Quốc sẽ bỏ thuế xuất khẩu đối với phân bón, điều đó có nghĩa lượng phân bón ra thị trường sẽ lớn hơn.Hơn nữa, nông dân nhiều nước đã cấy xong vụ Đông Xuân và đã hoàn thành bón lót, nên việc sử dụng phân bón tới đây sẽ giảm đi. Các nhà máy nghỉ bảo dưỡng cũng bắt đầu hoạt động trở lại bình thường. Đơn cử như DAP - loại phân sử dụng nhiều nhất ở ĐBSCL - sẽ không có cơ hội tăng giá mạnh trên thị trường thế giới, bởi Ấn Độ, Brazil và Trung Quốc đều đã tích trữ đủ lượng DAP dùng cho năm sau. Với ure, mặc dù giá thế giới vừa qua có xu hướng tăng nóng song sản xuất trong nước hiện đã đáp ứng được 50% nhu cầu, đồng thời các nhà sản xuất cũng đã đã nhập khẩu một lượng phân khá lớn nên việc khan hàng để đẩy giá lên sẽ không xảy ra. Với những yếu tố đó, giá phân bón khó có thể tăng như năm 2008.Thực tế cho thấy, ngay từ ngày 13/10, nhiều loại phân bón đã ngừng không tăng giá như ure, NPK.Tuy nhiên Hiệp hội cũng vẫn đang theo dõi sát diễn biến của thị trường và cũng tính đến phương án có thể đề nghị Chinh phủ cho dừng xuất khẩu phân DAP, hiện nay giá DAP thế giới tăng cao tới 600 USD/tấn trong khi phân DAP trong nước sản xuất còn hạn chế. Nhằm góp phần bình ổn cung cầu, với một số mặt hàng trong đó có phân bón, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo các ngành sớm trình quy hoạch phân phối. Với góc nhìn của Hiệp hội, theo ông, làm thế nào để hệ thống phân phối phân bón cần có thể cân băng lợi ích giữ nông dân và doanh nghiệp?Ông Nguyễn Hạc Thúy: Chúng tôi cho rằng, trước mắt các cơ quan hữu quan cần sớm ra văn bản có tính chất pháp lý về Quy hoạch phân bón năm 2010 đến năm 2020Bên cạnh đó, tăng cường sản xuất phân bón NPK chất lượng cao, hợp quy, phân bón npk phân hữu cơ và phân chuyên dùng chất lượng cao. Đến năm 2011, hạn chế phát triển phân NPK chất lượng thấp.Đồng thời tăng sản lượng sản xuất phân lân nung chảy từ 1,2 lên 1,4 triệu tấn từ năm 2015. Thời gian qua, chúng ta quảng bá chưa đúng mức khiến người nông dân chưa hiểu hết ý nghĩa của dòng phân này, trong khi đây là loại phân đa dinh dưỡng và rất hiệu quả.Bên cạnh đó, nên đưa mặt hàng phân bón vào mặt hàng kinh doanh có điều kiện, có nghĩa một cơ quan thống nhất cấp phép, khi cấp phép phải có các tiêu chí cụ thể.Linh Đan .
II. chung nhan hop quy phan bon Các đội QLTT còn phát hiện hàng loạt cửa hàng tự in tem hợp quy để qua mặt các cơ quan chức năng
.Phát biểu tại buổi lễ, ông Trần Anh, TGĐ Cty cho biết, công nghệ urê hóa lỏng là công nghệ tân tiến, hiện đại, cho phép sản xuất các công thức phân bón có hàm lượng dinh dưỡng cao, phân bón đặc chủng đa yếu tố cho từng loại cây trồng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp hiện đại. Đặc biệt với tính chất tan nhanh, cây trồng dễ hấp thụ, giảm thất thoát dinh dưỡng do điều kiện thời tiết gây ra, giảm hàm lượng lưu huỳnh trong phân nhằm làm giảm độ chua của đất. Dự kiến đến tháng 6/2014, nhà máy sẽ đi vào sản xuất, tạo công ăn việc làm cho 150 lao động tại chỗ. Nguồn phân bón trong nước đang cung lớn hơn cầu. Ảnh: S.T Ngành phân bón và hóa chất hiện đang giảm sản lượng, so với cùng kỳ, sản lượng phân NPK tháng 11 ước đạt 21.300 tấn giảm 9,5%; phân DAP ước đạt 26.000 tấn, giảm 4,5%; phân urê ước đạt 208.100 tấn, giảm 19,1%. Tính chung 11 tháng so với cùng kỳ, phân NPK ước đạt trên 2,2 triệu tấn, giảm 3%; phân DAP ước đạt 210.000 tấn, giảm 19,2%; riêng sản lượng phân urê ước đạt gần 1,9 triệu tấn, tăng 19,8%. Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, các loại phân bón nhập khẩu trong 9 tháng 2013 đã đạt tới 3,36 triệu tấn, tăng 20,5% so với cùng kì với trị giá tương đương 1,26 tỷ USD tăng 5,3% yoy. Trong đó, sản lượng urê nhập khẩu lên đến 546,3 nghìn tấn +25,1% yoy và đạt trị giá 184,4 triệu USD +2,7% yoy. Sát ván trên thị trường nội địa Các nhà sản xuất trong nước đang phải giảm sản xuất do nguồn cung trong nước đang lớn hơn cầu. Hiện giá phân urê Phú Mỹ từ đại lý cấp 1 phân phối đến đại lý cấp 2 hoặc bán cho nông dân có giá 8.400-8.600 đồng/kg, còn nhà máy bán cho đại lý 7.400-7.600 đồng/kg, tăng bình quân 200 đồng/kg so với cách đây 1 tháng; giá phân urê hạt đục Cà Mau dao động từ 7.800-8.300 đồng/kg tại các tỉnh phía Nam. Để đẩy mạnh sản xuất, các doanh nghiệp ngành phân bón hiện đang triển khai nhiều hoạt động chạy đua tiếp cận khách hàng theo cách thức cung cấp thông tin, cung cấp khuyến mãi... Các doanh nghiệp phân bón hiện đã cảm nhận rất rõ độ khó của thị trường. Trong lĩnh vực phân ure, hiện Tổng Công ty Phân bón và hóa chất dầu khí-Đạm Phú Mỹ DPM là 1 trong 2 doanh nghiệp trong nước lớn nhất tính trên công suất thiết kế đạt 800.000 tấn/năm. Có thể nhìn từ câu chuyện của DPM để thấy cái khó chung của các doanh nghiệp khác. Thực ra, sự giảm sút lợi nhuận của DPM có nguyên nhân từ việc Nhà máy DCM thuộc Công ty TNHH MTV Phân bón Dầu khí Cà Mau tách ra khỏi DPM hồi tháng 11-2012 và trở thành đối thủ” cạnh tranh trực tiếp với DPM bởi có cùng loại sản phẩm và công suất thì tương đương. Đã vậy, DCM lại có lợi thế địa lý khi nằm ngay ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa của cả nước và cũng là thị trường tiêu thụ phân đạm lớn nhất nước. Do đó, việc sụt giảm 43,6% doanh thu trong quí III-2013 của DMP so với cùng kỳ năm trước cũng giống như chỉ báo về việc cạnh tranh ngày một khắc nghiệt tại thị trường trong nước. Chưa hết, các doanh nghiệp, kể cả DPM hay DCM, cũng đang phải gặp vấn đề về sự sụt giảm của giá đạm Ure do nhu cầu phân bón đang giảm bởi yếu tố thời vụ vụ Hè Thu đã khép. Thêm nữa, sản lượng sản xuất đạm Ure trong nước hiện đang không ngừng tăng, đáp ứng được tới 80% nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong nước và được dự báo sẽ cung vượt cầu trong thời gian tới. Mặt khác, sự đổ bộ của phân bón nhập khẩu càng khiến sức ép cạnh tranh trên thị trường này tăng lên. Hiện, 90% sản lượng urê nhập khẩu có nguồn gốc từ Trung Quốc, vốn có giá bán thấp hơn khoảng 500-700 đồng/kg so với giá ure sản xuất trong nước. Các doanh nghiệp sản xuất trong nước hiện cũng gặp khó về các khoản nợ vay. Tỷ lệ nợ vay trung bình của ngành này là 48% và chủ yếu ngắn hạn. Trong đó, tỷ lệ nợ vay của một số doanh nghiệp niêm yết trong ngành phân bón khá cao như như Công ty CP Vật tư Tổng hợp và Phân bón Hóa sinh HSI đang có tỷ lệ nợ vay 84% hay như Công ty CP Supe Phốt Phát và Hóa chất Lâm Thao LSS có tỷ lệ nợ vay 52%, điều này dẫn đến những khó khăn trong thanh toán và tình trạng tài chính của doanh nghiệp không đảm bảo. Chưa hết, trong 9 tháng qua, cũng chính HSI đang có tình trạng kinh doanh lãi âm và lũy kế cả lãi âm của cả năm 2012. Còn LSS tuy khả quan hơn nhưng lại có lượng hàng tồn kho rất cao nên khả năng thanh toán bị trì đọng. Âu lo khi ra thị trường quốc tế Một khi cơ hội ở thị trường nội địa không còn dồi dào, đầu tư ra thị trường nước ngoài, khai phá các thị trường nông thôn của các quốc gia trong khu vực Asean là hướng mà hầu hết các doanh nghiệp ngành phân bón đều tính toán. Hiện tại, tại các thị trường như Campuchia, Trung Quốc, thậm chí ở một số thị trường xa hơn như Úc, các doanh nghiệp Việt Nam như DPM, DCM, Phân bón Năm Sao, HSI, Phân bón Bình Điền... Đều đã có mặt. Đặc biệt, tại thị trường Campuchia với khu vực Biển Hồ - vùng đồng bằng thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và tạo nên trung tâm Campuchia, các doanh nghiệp ngành phân bón Việt đã rất quan tâm đẩy mạnh khâu làm thị trường”. Tuy nhiên, mức độ thâm nhập thị trường lân cận của doanh nghiệp ngành phân bón hiện vẫn chưa mang lại hiệu quả cao. TS Đặng Kim Sơn - Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách nông nghiệp, nông thôn lo lắng khi Việt Nam, một đất nước có trụ đỡ từ nông nghiệp mà lại chưa đầu tư đủ và đúng mức vào những lĩnh vực máy móc công nghiệp và sản xuất phân bón. Nhưng đáng lo ngại hơn còn bởi chuyện sống còn của doanh nghiệp lúc này liên quan rất nhiều đến khả năng thích nghi với hội nhập sâu rộng. Nhất là khi Hiệp định TPP được ký kết, doanh nghiệp được xác định sẽ đối diện rủi ro lớn nhất, 5 ăn 5 thua, hay thậm chí có lĩnh vực sẽ bị xóa sổ, ông Sơn khuyến nghị. Nhìn ở góc độ vĩ mô, ông Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam thực sự quan ngại cho đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam trước thềm TPP được ký kết. Lúc này hàng phân bón nhập khẩu của doanh nghiệp trong nước còn đang cạnh tranh chật vật trên ngay chính sân nhà với sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc với giá thành thấp hơn hẳn, thì ít nữa sẽ rất dễ mất thị trường vào tay hàng nhập khẩu. Hơn lúc nào hết, các doanh nghiệp ngành phân bón đã nhận được cảnh báo về nguy cơ cao này. Họ đã ứng đối theo cách mở mang ra thị trường nước ngoài, nhưng như thế là chưa đủ nếu mỗi doanh nghiệp không tự cải thiện nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, bà Nguyễn Thu Trang - Giám đốc trung tâm WTO VCCI đưa ra khuyến nghị. Phương Huyền. Bón phân NPK-S Lâm Thao cho lúa vụ xuân: Nông dân tăng lợi nhuận 240.000 đồng/sào Địa điểm trình diễn là các xã Thạch Sơn, Xuân Lũng và Tiên Kiên, huyện Lâm Thao. Công thức bón phân: Ruộng mô hình sử dụng phân NPK-S Lâm Thao có bổ sung bã gíp theo quy trình bón phân khép kín. Ruộng đối chứng được bón phân theo tập quán địa phương. Kết quả thực hiện mô hình cho thấy: Cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, ít sâu bệnh hại, chỉ phải phun thuốc trừ sâu 1 lần, nhiều ruộng không phải phun thuốc, chiều cao cây lúa thấp hơn lúa ở ruộng đối chứng 10-12cm, cây cứng hơn, lá đòng đứng, thời gian sinh trưởng rút ngắn khoảng 8-10 ngày so với ruộng đối chứng. Năng suất ở ruộng lúa mô hình đạt 248kg/sào; ruộng đối chứng đạt 210kg/sào chênh lệch 38kg/sào. Trừ các chi phí, thu nhập ở ruộng mô hình đạt 578.000 đồng/sào; ở ruộng đối chứng đạt 338.000 đồng/sào hiệu quả kinh tế tăng 240.000 đồng/sào. Phân bón DAP NK từ Trung Quốc qua đường tiểu ngạch. Ảnh: PHAN THU Thừa vẫn nhập Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, 5 tháng đầu năm, NK phân bón giảm mạnh cả lượng và giá trị. Cụ thể, ước tính khối lượng NK phân bón các loại trong tháng 5 đạt 159 nghìn tấn với giá trị 43 triệu USD, đưa khối lượng NK phân bón 5 tháng đầu năm đạt gần 1,31 triệu tấn, kim ngạch NK đạt 405 triệu USD, giảm 14,9% về lượng và giảm 35,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, khối lượng NK phân urê ước đạt 27 nghìn tấn với giá trị 8,9 triệu USD, giảm 71,7% về lượng và giảm 75,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013; phân SA ước đạt 396 nghìn tấn với giá trị NK 55 triệu USD, giảm 1,8% về lượng nhưng giảm tới 32,9% về giá trị. Nguồn phân bón NK chủ yếu từ Trung Quốc, chiếm tới 45,3% tổng kim ngạch NK. Phát biểu tại hội thảo quốc gia thực hiện Nghị định 202/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón và chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững mới đây, ông Nguyễn Gia Tường, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam Vinachem cho biết: Hiện nay, sản xuất trong nước đã đáp ứng được 100% nhu cầu về phân ure, phân lân chế biến, phân NPK, thậm chí nhiều DN còn có số lượng tồn kho lớn kéo dài từ năm này qua năm khác. Đối với riêng Vinachem, tập đoàn đã sản xuất được khoảng 5 triệu tấn phân bón/năm, đáp ứng cơ bản nhu cầu phân bón có chất lượng tốt cho sản xuất nông nghiệp trong nước. Trong đó, đáp ứng 100% nhu cầu phân lân chế biến với sản lượng xấp xỉ 2 triệu tấn/năm, đáp ứng 50% nhu cầu phân urê với sản lượng 1,15 triệu tấn/năm và đáp ứng 60% nhu cầu phân DAP với sản lượng 660 nghìn tấn/năm và trên 2 triệu tấn phân NPK. Theo ông Nguyễn Gia Tường, mặc dù kim ngạch NK phân bón đã giảm, song các DN trong nước vẫn chịu tác động rất lớn và khó cạnh tranh với phân bón NK, đặc biệt là phân bón NK từ Trung Quốc. Đó là do hiện tại, phân bón chủ yếu được NK từ Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Hình thức NK này rất khó kiểm soát về chất lượng về thuế nên dễ xảy ra tình trạng gian lận thương mại, trà trộn phân chất lượng thấp, gây ra cạnh tranh không bình đẳng với phân sản xuất trong nước. Tìm đường XK Ông Nguyễn Gia Tường cho biết, để tháo gỡ khó khăn cho ngành phân bón, Vinachem kiến nghị tạm dừng hoạt động NK phân bón biên mậu; tăng thuế suất thuế NK phân urê, DAP, NPK lên mức cao nhất theo các cam kết thương mại ký giữa Việt Nam và các nước; tăng cường các biện pháp quản lý thị trường phân bón trong nước, đặc biệt đối với phân bón NK. Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo các lợi ích của nông dân khi thực hiện chính sách hạn chế NK phân bón, yêu cầu các đơn vị sản xuất phân urê, DAP, NPK phải đăng ký giá bán với cơ quan quản lý giá theo quy định để theo dõi, giám sát. Mong muốn tự tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ phân bón, vài năm gần đây, một số DN trong ngành cũng đã chủ động tìm đường XK. Điển hình như Công ty TNHH MTV Phân bón dầu khí Cà Mau hop quy, phan bon npk PVCFC đặt kế hoạch năm 2014 sẽ XK khoảng 100.000 tấn phân bón sang Campuchia, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Hàn Quốc... Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí PVFCCo cũng đã tiến hành xúc tiến thương mại nhiều năm qua và đến nay đã thành lập được các chi nhánh, văn phòng đại diện tại Campuchia, Myanmar. Với thị trường Myanmar, năm 2014, PVFCCo đặt mục tiêu sẽ XK với số lượng lớn bởi tổng lượng cầu đối với urê của Myanmar vào khoảng 1,5 triệu tấn/năm và sẽ còn tăng trong những năm tới. Nhiều chuyên gia khuyến cáo, XK phân bón là một hướng mở cho các DN sản xuất trong nước. Tuy nhiên, thị trường XK phân bón của Việt Nam cũng đang chịu sự cạnh tranh khốc liệt với các sản phẩm phân bón của các nước trong khu vực và thế giới. Bởi vậy, mỗi DN sản xuất phân bón cần chủ động đầu tư cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng, giảm giá thành để tăng sức cạnh tranh, có chiến lược xây dựng thương hiệu. Bên cạnh đó, các DN cũng phải tăng cường hợp tác, liên kết với nhau, tạo ra sự đoàn kết, đồng bộ, nhằm đảm bảo được lợi ích cộng đồng DN cả ở thị trường trong nước cũng như XK.
Ngoài những đặc trưng, ưu điểm của phân bón cũ, phân bón M1 còn có những đặc thù riêng, thích ứng với các loại cây trồng, các loại đất trên cả nước. Hiệu quả rõ rệt Lâm Thao Phú Thọ là một trong những huyện đầu tiên sử dụng loại phân bón mới NPK - SM1 cho cây trồng. Anh Hà Ngọc Giang - Trạm trưởng Trạm Khuyến nông huyện Lâm Thao chia sẻ: Hiện tại, huyện Lâm Thao có khoảng 800ha trồng ngô vụ đông, trồng lúa có khoảng 3.500ha/vụ/năm.Trong 3.500ha trồng lúa, chúng tôi sử dụng 100% phân NPK- SM1 5.10.3-8 để bón lót. Đối với bón thúc cho cây lúa bà con nông dân sử dụng từ 65-70% phân NPK còn lại sử dụng phân đơn. Quy trình sản xuất nghiêm ngặt từ khâu đầu đến khâu cuối đối với sản phẩm NPK- SM1. Theo anh Giang, khuyến nông huyện đã và đang phối hợp với Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao tổ chức nhiều lớp tập huấn về sử dụng phân bón NPK cho bà con nông dân, xây dựng nhiều mô hình trình diễn cho các cây hoa màu như lúa, ngô hoặc các loại rau màu ở các vụ đông, vụ xuân. Nói về hiệu quả sử dụng phân bón NPK- SM1, anh Giang chia sẻ: Sản phẩm NPK mới tốt hơn, hiệu quả cao hơn so với phân cũ. Phân tích kỹ hơn, trong phân mới NPK - SM1 ngoài đạm và kali trong thành phần lân có 2 loại là lân tan trong nước có trong supe lân, và thành phần lân chậm tan có trong lân nung chảy. Hiện tại, Trạm Khuyến nông huyện đang tham mưu cho UBND huyện xây dựng thêm nhiều cánh đồng mẫu lớn, đồng thời phối hợp với Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao bảo lãnh ứng toàn bộ phân bón cho nông dân tham gia vào sản xuất cánh đồng mẫu lớn. Sau khi thu hoạch, bà con mới phải trả tiền phân cho công ty. Đây là một hướng liên kết mà chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai trong thời gian tới” - anh Giang cho biết thêm. Chị Lê Thị Lan khu 5 xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, Phú Thọ tâm sự: Hiện giờ diện tích canh tác của gia đình là 8 sào. Khi dùng phân bón mới NPK- SM1 để bón cho cây lúa, tôi thấy lúa tốt xanh, đòng to, cứng cây, cho ra hạt hạt chắc không bị đổ, chúng tôi thấy hiệu quả. Khi đưa phân bón sang cây ngô, tôi hy vọng nó cũng hiệu quả như cây lúa”. Nói về tiềm năng phát triển của nhóm phân NPK- SM1, ông Vũ Xuân Hồng– Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cho hay: Phân bón NPK- SM1 có ưu điểm đặc biệt nổi trội, hơn hẳn các loại phân bón khác. Chúng tôi xác định đây là loại phân bón có hiệu quả tốt, đáp ứng với mọi loại cây trồng và có tính chất cải tạo đất”. Được biết hiện nay, đất trồng ở Việt Nam đang có vấn đề về dinh dưỡng, độ phì của đất cũng giảm nhiều. Thời gian tới, Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao sẽ tiếp tục hoàn thiện hơn phân bón này để làm sao có thể biến phân bón NPK- SM1 thành phân bón với nhiều ưu điểm và có lợi thế cạnh tranh nhất trong thời gian tới. Với thị trường mở rộng ở miền núi phía Bắc, ở miền Trung và Tây Nguyên, chúng tôi sẽ tăng cường và phát triển hơn nữa về chất lượng của loại phân bón này”- ông Hồng chia sẻ. Kỹ thuật cần biết Ý kiến Chị Lê Thị Lan • Người dân khu 5, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, Phú Thọ Hiện giờ diện tích canh tác của gia đình là 8 sào. Khi dùng phân bón mới NPK- SM1 để bón cho cây lúa, tôi thấy lúa tốt xanh, đòng to, cứng cây, cho ra hạt chắc không bị đổ, chúng tôi thấy hiệu quả. Khi đưa phân bón sang cây ngô, tôi hy vọng nó cũng hiệu quả như cây lúa. Với người bạn đồng hành” có giá trị cao như vậy, việc sử dụng sao cho đúng cách, đạt hiệu quả, năng suất cao luôn được đặt lên hàng đầu. Về kỹ thuật sử dụng nhóm phân bón mới này, ông Phạm Đức Thành - Phó Trưởng phòng kinh doanh, Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao chia sẻ: Hiện công ty đã xây dựng được quy trình bón phân khép kín, đó là từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch, bà con chỉ cần sử dụng một loại phân bón duy nhất là NPK- SM1 cho bón lót và bón thúc. Quy trình này được áp dụng cho tất cả các loại cây trồng như lúa, ngô, một số cây rau màu, cây công nghiệp. Đối với cây ngô vụ đông, chúng tôi khuyến cáo bà con nên sử dụng như sau: - Bón lót: Trên nền phân chuồng 300kg/sào Bắc Bộ BB, bà con dùng phân NPK- SM1 5.10.3- 8 với liều lượng từ 25kg/sào BB. Nếu trồng với mật độ dày, bà con cần chú ý tăng lượng bón lót lên thêm 10kg/sào BB. - Bón thúc thì bà con nên bón hai lần. Bón thúc lần 1 khi cây ngô có 3- 5 lá thật, bà con dùng NPK- SM1 12.5.10-14 bón với liều lượng 9kg/sào BB, bón lần hai khi cây ngô xoáy nõn, bà con cũng dùng NPK- SM1 12.5.10-14 với liều lượng 9kg/sào BB. Đặc biệt, ông Thành cũng lưu ý với bà con nông dân khi sử dụng phân NPK- SM1 theo quy trình khép kín thì không cần bón thêm các loại phân đơn khác ngoài phân chuồng. Ngoài ra, phân NPK- SM1 do được sản xuất qua công nghệ vê viên tạo hạt, ông Thành khuyến cáo bà con không nên hòa vào nước tưới mà hãy bón trực tiếp xung quanh gốc, sau đó có thể kết hợp với xới hoặc vun để hiệu quả sử dụng phân bón cao hơn. Chị Lại Thị Thọ khu 5 xã Kinh Kệ chia sẻ: Trước kia chưa biết, chúng tôi thường cho phân NPK- SM1 vào thùng hòa tan xong mới tưới, thấy mất thời gian. Sau khi được hướng dẫn đúng cách, chúng tôi chỉ việc bỏ vào gốc, thấy rất nhanh mà không mất thời giờ. Tôi thấy sử dụng phân mới có hiệu quả, ngô tốt hơn so với phân cũ”. Theo anh Thành, nhóm sản phẩm NPK- SM1 có nhiều ưu điểm hơn các loại phân thông thường. Đó là ngoài thành phần dinh dưỡng đạm, kali, riêng thành phần lân nó có 2 loại là lân tan ở trong nước và lân không tan trong nước. Thành phần lân tan trong nước có tác dụng cung cấp lân cho cây trồng ngay từ đầu, do vậy hạn chế được bệnh nghẹt rễ lúa, bệnh chân trì huyết dụ đối với ngô và nó cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng trung lượng nhờ lưu huỳnh, vi lượng như kẽm, đồng. Loại lân không tan trong nước có trong phân lân nung chảy, có tác dụng cung cấp lân cho giai đoạn sau, nó hạn chế rửa trôi phân bón đồng thời bổ sung thêm các nguyên tố trung lượng như magiê, silic giúp cho cây cứng, chống đổ tốt. Khi đưa sản phẩm NPK- SM1 ra thị trường đã được bà con nông dân tin tưởng sử dụng, nó phù hợp với các vùng đất chua phèn, chiêm trũng với các tỉnh như Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An. Hội thảo đầu bờ lúa thuần QR2, DQ18 tại Bắc Giang Theo kết quả khảo nghiệm cho thấy giống lúa QR2, DQ11 của Cty TNHH Vật tư nông nghiệp Hồng Quang có TGST vụ xuân từ 119 - 124 ngày, đẻ nhánh khỏe, khả năng chống chịu sâu đục thân, rầy nâu, khô vằn, bạc lá… tốt hơn giống lúa đối chứng Khang dân 18. QR2, DQ11 đều có số bông hữu hiệu cao, từ 6,3 - 6,8 bông/khóm, 156 - 162 hạt/bông. Năng suất từ 68 - 71 tạ/ha. Khi sử dụng phân vi sinh thay thế 40% phân NPK 5-10-3 bón lót thì năng suất của 2 giống đều tăng từ 1,8 - 2,2 tạ/ha tăng 20 - 30% so với giống lúa đối chứng Khang dân 18; chất lượng cơm ngon, mềm và dẻo có vị đậm. Để khẳng định tính thích ứng của giống, nhiều ý kiến cho rằng, Sở NN-PTNT, Cty Hồng Quang cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ xây dựng nhiều mô hình trình diễn trên những chân đất khác nhau nhằm lựa chọn, bổ sung vào bộ giống cơ cấu của tỉnh. Ông Vũ Đình Phượng, PGĐ Sở NN-PTNT Bắc Giang khẳng định thành công của mô hình SX lúa QR2, DQ11 kết hợp sử dụng phân bón NPK Lâm Thao khép kín và phân bón vi sinh đa chức năng là tiền đề để UBND các huyện, TP trong tỉnh mở rộng SX, xây dựng cánh đồng mẫu lớn SX hàng hóa tập trung... Nguồn phân bón trong nước đang cung lớn hơn cầu. Ảnh: S.T Ngành phân bón và hóa chất hiện đang giảm sản lượng, so với cùng kỳ, sản lượng phân NPK tháng 11 ước đạt 21.300 tấn giảm 9,5%; phân DAP ước đạt 26.000 tấn, giảm 4,5%; phân urê ước đạt 208.100 tấn, giảm 19,1%. Tính chung 11 tháng so với cùng kỳ, phân NPK ước đạt trên 2,2 triệu tấn, giảm 3%; phân DAP ước đạt 210.000 tấn, giảm 19,2%; riêng sản lượng phân urê ước đạt gần 1,9 triệu tấn, tăng 19,8%. Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, các loại phân bón nhập khẩu trong 9 tháng 2013 đã đạt tới 3,36 triệu tấn, tăng 20,5% so với cùng kì với trị giá tương đương 1,26 tỷ USD tăng 5,3% yoy. Trong đó, sản lượng urê nhập khẩu lên đến 546,3 nghìn tấn +25,1% yoy và đạt trị giá 184,4 triệu USD +2,7% yoy. Sát ván trên thị trường nội địa Các nhà sản xuất trong nước đang phải giảm sản xuất do nguồn cung trong nước đang lớn hơn cầu. Hiện giá phân urê Phú Mỹ từ đại lý cấp 1 phân phối đến đại lý cấp 2 hoặc bán cho nông dân có giá 8.400-8.600 đồng/kg, còn nhà máy bán cho đại lý 7.400-7.600 đồng/kg, tăng bình quân 200 đồng/kg so với cách đây 1 tháng; giá phân urê hạt đục Cà Mau dao động từ 7.800-8.300 đồng/kg tại các tỉnh phía Nam. Để đẩy mạnh sản xuất, các doanh nghiệp ngành phân bón hiện đang triển khai nhiều hoạt động chạy đua tiếp cận khách hàng theo cách thức cung cấp thông tin, cung cấp khuyến mãi... Các doanh nghiệp phân bón hiện đã cảm nhận rất rõ độ khó của thị trường. Trong lĩnh vực phân ure, hiện Tổng Công ty Phân bón và hóa chất dầu khí-Đạm Phú Mỹ DPM là 1 trong 2 doanh nghiệp trong nước lớn nhất tính trên công suất thiết kế đạt 800.000 tấn/năm. Có thể nhìn từ câu chuyện của DPM để thấy cái khó chung của các doanh nghiệp khác. Thực ra, sự giảm sút lợi nhuận của DPM có nguyên nhân từ việc Nhà máy DCM thuộc Công ty TNHH MTV Phân bón Dầu khí Cà Mau tách ra khỏi DPM hồi tháng 11-2012 và trở thành đối thủ” cạnh tranh trực tiếp với DPM bởi có cùng loại sản phẩm và công suất thì tương đương. Đã vậy, DCM lại có lợi thế địa lý khi nằm ngay ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa của cả nước và cũng là thị trường tiêu thụ phân đạm lớn nhất nước. Do đó, việc sụt giảm 43,6% doanh thu trong quí III-2013 của DMP so với cùng kỳ năm trước cũng giống như chỉ báo về việc cạnh tranh ngày một khắc nghiệt tại thị trường trong nước. Chưa hết, các doanh nghiệp, kể cả DPM hay DCM, cũng đang phải gặp vấn đề về sự sụt giảm của giá đạm Ure do nhu cầu phân bón đang giảm bởi yếu tố thời vụ vụ Hè Thu đã khép. Thêm nữa, sản lượng sản xuất đạm Ure trong nước hiện đang không ngừng tăng, đáp ứng được tới 80% nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong nước và được dự báo sẽ cung vượt cầu trong thời gian tới. Mặt khác, sự đổ bộ của phân bón nhập khẩu càng khiến sức ép cạnh tranh trên thị trường này tăng lên. Hiện, 90% sản lượng urê nhập khẩu có nguồn gốc từ Trung Quốc, vốn có giá bán thấp hơn khoảng 500-700 đồng/kg so với giá ure sản xuất trong nước. Các doanh nghiệp sản xuất trong nước hiện cũng gặp khó về các khoản nợ vay. Tỷ lệ nợ vay trung bình của ngành này là 48% và chủ yếu ngắn hạn. Trong đó, tỷ lệ nợ vay của một số doanh nghiệp niêm yết trong ngành phân bón khá cao như như Công ty CP Vật tư Tổng hợp và Phân bón Hóa sinh HSI đang có tỷ lệ nợ vay 84% hay như Công ty CP Supe Phốt Phát và Hóa chất Lâm Thao LSS có tỷ lệ nợ vay 52%, điều này dẫn đến những khó khăn trong thanh toán và tình trạng tài chính của doanh nghiệp không đảm bảo. Chưa hết, trong 9 tháng qua, cũng chính HSI đang có tình trạng kinh doanh lãi âm và lũy kế cả lãi âm của cả năm 2012. Còn LSS tuy khả quan hơn nhưng lại có lượng hàng tồn kho rất cao nên khả năng thanh toán bị trì đọng. Âu lo khi ra thị trường quốc tế Một khi cơ hội ở thị trường nội địa không còn dồi dào, đầu tư ra thị trường nước ngoài, khai phá các thị trường nông thôn của các quốc gia trong khu vực Asean là hướng mà hầu hết các doanh nghiệp ngành phân bón đều tính toán. Hiện tại, tại các thị trường như Campuchia, Trung Quốc, thậm chí ở một số thị trường xa hơn như Úc, các doanh nghiệp Việt Nam như DPM, DCM, Phân bón Năm Sao, HSI, Phân bón Bình Điền... Đều đã có mặt. Đặc biệt, tại thị trường Campuchia với khu vực Biển Hồ - vùng đồng bằng thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và tạo nên trung tâm Campuchia, các doanh nghiệp ngành phân bón Việt đã rất quan tâm đẩy mạnh khâu làm thị trường”. Tuy nhiên, mức độ thâm nhập thị trường lân cận của doanh nghiệp ngành phân bón hiện vẫn chưa mang lại hiệu quả cao. TS Đặng Kim Sơn - Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách nông nghiệp, nông thôn lo lắng khi Việt Nam, một đất nước có trụ đỡ từ nông nghiệp mà lại chưa đầu tư đủ và đúng mức vào những lĩnh vực máy móc công nghiệp và sản xuất phân bón. Nhưng đáng lo ngại hơn còn bởi chuyện sống còn của doanh nghiệp lúc này liên quan rất nhiều đến khả năng thích nghi với hội nhập sâu rộng. Nhất là khi Hiệp định TPP được ký kết, doanh nghiệp được xác định sẽ đối diện rủi ro lớn nhất, 5 ăn 5 thua, hay thậm chí có lĩnh vực sẽ bị xóa sổ, ông Sơn khuyến nghị. Nhìn ở góc độ vĩ mô, ông Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam thực sự quan ngại cho đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam trước thềm TPP được ký kết. Lúc này hàng phân bón nhập khẩu của doanh nghiệp trong nước còn đang cạnh tranh chật vật trên ngay chính sân nhà với sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc với giá thành thấp hơn hẳn, thì ít nữa sẽ rất dễ mất thị trường vào tay hàng nhập khẩu. Hơn lúc nào hết, các doanh nghiệp ngành phân bón đã hop quy, phan bon npk nhận được cảnh báo về nguy cơ cao này. Họ đã ứng đối theo cách mở mang ra thị trường nước ngoài, nhưng như thế là chưa đủ nếu mỗi doanh nghiệp không tự cải thiện nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, bà Nguyễn Thu Trang - Giám đốc trung tâm WTO VCCI đưa ra khuyến nghị. Phương Huyền. Nhân hội nghị tôi cũng xin có một số ý kiến đề nghị sau: 1. Trên thị trường có rất nhiều loại phân bón với mẫu mã, chất lượng chủng loại khác nhau, nông dân rất khó phân biệt được đâu là phân giả, phân thật, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tăng cường công tác kiểm tra, quản lý đối với mặt hàng phân bón và có khuyến cáo đối với nông dân, tránh để nông dân loay hoay trong quá trình lựa chọn sản phẩm để mua được sản phẩm tốt có chất lượng. 2. Cần tăng cường công tác tuyên truyền để nông dân hiểu và biết cách bón phân đúng, mang lại hiệu quả kinh tế cao. 3. Cty CP Supe phốt phát & hóa chất Lâm Thao cần tăng cường thêm các mô hình sử dụng phân bón đồng bộ khép kín, tổ chức các hội nghị hướng dẫn sử dụng phân bón Lâm Thao để nông dân thấy được hiệu quả và áp dụng vào thực tế. Có cơ chế hỗ trợ để nông dân được tiếp cận với phân bón chất lượng tốt với giá hợp lý.. Nhìn chung, 2 quý đầu năm 2010, mặt hàng phân bón nhập khẩu của cả nước đều giảm về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2009. Cụ thể:+Phân Ure nhập về trong tháng 6 là 11,7 nghìn tấn, trị giá 3,2 triệu USD, tăng 0,35% về lượng và 31,05% về trị giá so với tháng 5/2010. Tính chung 6 tháng đầu năm, lượng Ure cả nước nhập về là 362,8 nghìn tấn, trị giá 110,9 triệu USD, giảm 47,88% về lượng và giảm 47,48% về trị giá so với cùng kỳ.+Phân NPK nhập khẩu trong tháng 6 là 8,1 nghìn tấn, trị giá 3,7 triệu USD, tăng 52,78% về lượng và 34,29% về trị giá so với tháng 5. Nâng lượng phân NPK nhập về trong 6 tháng đầu năm là 121,7 nghìn tấn, trị giá 46,3 triệu USD, giảm 30,49% về lượng và giảm 36,78% về trị giá so với cùng kỳ.+Phân DAP nhập 12,2 nghìn tấn trong tháng 6, đạt trị giá 5,1 triệu USD, tăng 77,39% về lượng và 94,41% về rtij giá so với tháng 5/2010, nâng lượng phân DAP nhập về trong 6 tháng đầu năm là 181,8 nghìn tấn, trị giá 78,6 triệu USD, giảm 64,61% về lượng và giảm 61,16% về trị giá so với cùng kỳ.+Tháng 6/2010, cả nước đã nhập 38,5 nghìn tấn phân SA, đạt trị giá 5,1 triệu USD, tăng 5,06% về lượng, nhưng giảm 1,33% về rtij giá so với tháng 5. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, cả nước đã nhập 355,3 nghìn tấn phân SA, đạt trị gái 48,4 triệu USD, giảm 42,38% về lượng và giảm 45,41% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009.+Phân Kali nhập về trong tháng là 70,8 nghìn tấn, trị giá 28,5 triệu USD, giảm 71,03% về lượng và giảm 68,72% về trị giá so với tháng 5/2010. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, lượng phân Kali nhập về là 282,8 nghìn tấn, trị giá 117,3 triệu USD, tăng 47,50% về lượng nhưng giảm 7,96% về trị giá so với cùng kỳ.Phân bón là mặt hàng duy nhất có giá giảm trong 6 tháng đầu năm 2010. Tháng 6/2010 giá tiếp tục giảm 5,9% so với tháng trước và giảm tới 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 6/2010 có 2 mặt hàng giảm giá là phân đạm SA và phân NPK, mặt hàng phân đạm SA giá giảm trong tháng thứ 4 liên tiếp và giá phân NPK giảm trong tháng thứ 2; giá nhập khẩu phân đạm Urea, phân kali, phân DAP tăng trở lại trong tháng 6/2010. So với cùng kỳ năm trước, tất cả các loại phân bón này giá đều giảm; giảm nhiều nhất là phân NPK với 18,5%; tiếp đến là phân DAP giảm 9,8% và giảm ít nhất là phân đạm SA với 2,5%.Về thị trường nhập khẩuTrung Quốc là thị trường nhập khẩu phân bón chủ yếu của Việt Nam trong 2 quý đầu năm 2010. Thagns 6/2010, Việt Nam đã nhập khẩu 62,6 nghìn tấn phân bón các loại từ thị trường Trung Quốc, đạt trị giá 18,7 triệu USD, tăng 18,57% về lượng và tăng 47,86% về trị giá so với tháng 5/2010. Nâng lượng phân bón 2 quý đầu năm nhập về từ thị trường này lên 532,4 nghìn tấn chiếm 38% lượng phân bón của cả nước, trị giá 157,8 triệu USD, giảm 26,54% về lượng và giảm 33,72% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009.Đứng thứ hai sau thị trường Trung Quốc là Nga với lượng nhập trong 2 quý đầu năm là 197,3 nghìn tấn, trị giá 61,1 triệu USD, giảm 26,79% về lượng và giảm 20,63% về trị giá so với cùng kỳ.Trong số những thị trường mà Việt Nam nhập khẩu phân bón, thì đáng chú ý là thị trường Nauy, tuy lượng nhập trong 2 quý đầu năm chỉ đạt 12,2 nghìn tấn, đạt trị giá 5,1 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ năm 2009, thì thị trường tăng trưởng đột biến tăng 6267,88% về lượng và 3392,28% về trị giá. Loại phân Bón lót, Kg Bón thúc sau trồng 10-12 ngày, kg Bón thúc giai đoạn thu hoạch Số lần bón/năm kg/lần Tính cho 1 ha Phân chuồng 15.000-30.000 Phân NPK-S 5.10.3-8 300- 400 Phân NPK-S 10.5.5 250-300 6-8 350-400 Tính cho 1 sào Bắc Bộ 360 m 2 Phân chuồng 500-1.100 Phân NPK-S 5.10.3-8 11-15 Phân NPK-S 10.5.5 9-12 6-8 13-15. Làm thế nào để nhận biết, mua và sử dụng phân bón chất lượng để tránh thiệt hại khi vụ lúa HT đang vào mùa? NNVN có cuộc trao đổi với TS Chu Văn Hách, Viện Lúa ĐBSCL. TS Chu Văn Hách - Trưởng Bộ môn Phân bón và Kỹ thuật canh tác, Viện Lúa ĐBSCL Thưa ông, vì sao thời gian qua khuyến cáo sử dụng phân bón theo 4 đúng” vẫn chưa được nhiều ND hưởng ứng, tuân thủ? Trong các loại vật tư đầu vào, phân bón được nông dân đặc biệt quan tâm vì nó gia tăng năng suất cao nhất. Tuy nhiên phân bón chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất khi áp dụng theo 4 đúng” nghĩa là bón đúng loại, đúng liều lượng, đúng thời gian và đúng phương pháp, hay nói một cách khác là bón phân theo nhu cầu của cây”. Vấn đề nông dân chưa áp dụng rộng rãi theo 4 đúng, nguyên nhân chính là họ còn quá lạm dụng phân bón, đặc biệt là phân đạm. Việc sử dụng phân đơn urê + DAP/lân + kali để tự phối trộn thì chi phí sẽ thấp hơn so với bón phân hỗn hợp NPK. Nhưng việc sử dụng phân đơn ngày càng bộc lộ các mặt trái vì chỉ có số ít nông dân có trình độ mới phối trộn được tỷ lệ thích hợp. Còn đại đa số vẫn chưa tính toán được tỷ lệ phối trộn phù hợp theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây, nên dẫn tới tình trạng là thừa loại này nhưng lại thiếu loại khác, hiệu quả đầu tư phân bón không cao. Xu hướng sử dụng phân bón của các nước trên thế giới trong giai đoạn hiện tại thường thiên về SX và sử dụng các loại phân thế hệ mới như phân hỗn hợp NPK chuyên dùng. Loại phân này có bổ sung các chất trung, vi lượng hoặc phối trộn với một số hóa chất để giảm thất thoát và nâng cao hiệu quả sử dụng phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây và loại đất. Ưu điểm là thuận tiện và dễ dàng cho người sử dụng, nếu bón dư chút ít cũng không bị ảnh hưởng do dư thừa phân đạm như khi bón phân đơn. Mặt khác, phân chuyên dùng này sẽ cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết cho cây theo từng giai đoạn sinh trưởng. Cây sẽ phát triển cân đối và tốt hơn do vậy sẽ tăng sức đề kháng với sâu bệnh hại. Gần đây, phân bón NPK chuyên dùng thế hệ mới của VN đang theo xu thế chung của thế giới, vì hiệu quả, tiện lợi và khắc phục được những nhược điểm của bón phân đơn. Thực tế vụ lúa HT ở ĐBSCL, nôgn dân thường sử dụng phân bón như thế nào? Ông có ý kiến nhận xét gì? Vụ HT ở ĐBSCL do điều kiện thời tiết bất lợi ngay từ đầu vụ như nắng nóng, nhiệt độ cao, pH đất thấp nên lân bị các cation sắt, nhôm cố định, thời vụ cập rập nên thường gặp ngộ độc hữu cơ…do đó cây lúa kém phát triển ngay từ đầu vụ. Phần lớn nông dân không biết rõ hợp quy, phân bón npk nguyên nhân lúa vì sao không phát triển được. Hễ thấy lúa không phát thì suy nghĩ đầu tiên của họ là bón thêm phân đạm. Thực tế nông dân bón lượng đạm ở vụ HT còn cao hơn so với vụ ĐX, nhưng lại ít quan tâm tới bón tăng lượng lân. Trong khi vụ HT đất thường thiếu lân. Một điều nghịch lý là nông dân sử dụng dư phân đạm, đến khi cây lúa quá tốt thì họ lại sử dụng kali để bón thêm nhằm hạn chế đổ ngã và hạn chế sâu bệnh. Kiểu bón phân như vậy không hiệu quả, vì đã tốn tiền do bón dư đạm rồi lại tốn thêm tiền bón kali để giải độc cho cây. Trong vụ HT năng suất lúa chỉ bằng 70% thậm chí là 50% so với vụ ĐX. Trong điều kiện bình thường để SX được 1 tấn lúa thì cây phải hút và tích lũy được 15 kg N + 2,6 kg P và 15 kg K, vậy thì lượng phân bón cho lúa ở vụ HT sẽ thấp hơn so với vụ ĐX. Tuy nhiên, do vụ HT có nhiều yếu tố trong đất ngộ độc phèn, hữu cơ cản trở sinh trưởng phát triển của cây lúa nên cần phải có giải pháp hạn chế các yếu tố này ngay từ đầu vụ như dùng nước rửa ruộng nhiều lần, bón vôi và lân sớm với lượng cao hơn hoặc sử dụng các dạng lân có phối trộn với hoạt chất Avail để hạn chế sự cố định lân của sắt nhôm. Đối với vụ HT nên bón nặng lân ở đầu vụ một mặt cung cấp thêm lân cho cây phát triển bộ rễ, mặt khác giúp tăng pH, lượng đạm nên giảm so với vụ ĐX. Tác dụng phân bón NPK trên đất phù sa và tùy theo từng tiểu vùng ở ĐBSCL cho thấy nên sử dụng phân như thế nào cho đúng? Đối với lúa ở ĐBSCL phân bón chủ yếu là các nguyên tố đa lượng N- P-K dung để bón xuống đất, còn tỷ lệ giữa các dưỡng chất này phụ thuộc vào từng tiểu vùng khác nhau ví dụ cũng là vùng phù sa nhưng vùng phù sa đầu nguồn một phần của An Giang và một phần của Đồng Tháp nằm cặp 2 sông Tiền và Hậu bón khác so với vùng phù sa Tây sông Hậu. Tuy nhiên có một điểm chung là kali không có tác dụng làm tăng năng suất lúa kể cả trên đất phù sa và đất phèn. Do đó kali chỉ cần đầu tư ở mức thấp để duy trì và ổn định kali trong keo đất. Dù vậy, nếu bón kali ở mức cao sẽ hạn chế khả năng hút một số nguyên tố trung và vi lượng khác thậm chí là hạn chế cả khả năng hút đạm của cây vì kali có tính đối kháng ion. Trong vụ HT, công thức phân bón cho 1 ha vùng phù sa đầu nguồn là: 70 - 90 kg N + 40 - 50 kg P2O5 + 20 - 30 kg K2O; Tương ứng với vùng phù sa Tây sông Hậu là: 60 - 80 kg N + 40 - 60 kg P2O5 + 20 - 30 kg K2O. Tuy nhiên đây chỉ là công thức chung không thể áp dụng cho tất cả các chân ruộng, mà cần có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với đồng ruộng của mình. Lưu ý vào giai đoạn bón phân đợt 2 18 - 25 ngày sau sạ và đợt 3 38 - 45 ngày sau sạ nên quan sát màu lá tốt nhất là sử dụng bảng so màu lá để quyết định lượng phân đạm cho phù hợp, nếu lá xanh đậm thì giảm đạm, là vàng thì tăng thêm đạm. Gần đây, tình trạng phân bón kém chất lượng báo động, có tới 50% phân NPK 20-20-15 kém chất lượng hàm lượng dinh dưỡng không như công bố, thậm chí SX phân giả, nhất là các loại phân hữu cơ, phân bón lá, phân vi sinh… Làm thế nào để nông dân nhận biết, tránh rơi vào ma trận” hàng giả và kém chất lượng? Tình trạng phân bón kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái tràn lan làm cho nông dân hoang mang không biết đâu là phân thật đâu là phân giả. Cả vụ canh tác cây trồng nếu chọn không đúng vật tư đầu vào sẽ ảnh hưởng rất lớn tới thu nhập. Trong lúc chờ đợi Nhà nước có biện pháp chế tài mới xử lý hàng giả, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, chúng tôi xin khuyến cáo bà con lưu ý khi chọn và mua phân bón: Nên chọn các loại phân bón với thương hiệu trên thị trường được SX từ các Cty có uy tín và chọn các đại lý có uy tín thì quyền lợi của nông dân mới được đảm bảo. Xin cảm ơn ông!. Hiện nay, các tỉnh miền Bắc đang xuống giống vụ hè thu nên nhu cầu tiêu thụ phân bón tăng mạnh, đặc biệt là phân urê. Để đảm bảo nguồn phân bón, Bộ Công Thương đã đề nghị các doanh nghiệp cần tiếp tục đẩy mạnh sản xuất.Các cơ quan chức năng phối hợp với các cơ quan quản lý thị trường và chính quyền địa phương tổ chức rà soát, kiểm tra tình hình dự trữ và giá phân bón của các đại lý phân phối, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nông dân.Mai Nguyễn .
III. chứng nhận ISO 14001 Đoàn đã làm việc và yêu cầu đơn vị cam kết nếu có sản phẩm trên thị trường đoàn sẽ đề nghị thu hồi giấy phép hợp quy và khi sản xuất và có sản phẩm cung cấp ra thị trường phải thông báo cho Bộ GTVT
Số phân bón này do Công ty TNHH Mặt trời xanh, có trụ sở tại Dương Liễu, Hoài Đức, Hà Nội sản xuất. Trong khi trên bao bì quảng cáo là phân bón NPK cao cấp, được sản xuất trên dây chuyền hiện đại thì thành phần chủ yếu lại là bột đá và đất sét. Kết quả giám định cho thấy, hàm lượng các thành phần cơ bản chỉ đạt 10-20% so với đăng ký. Ngày 30/1, Nhà máy Đạm Cà Mau do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư đã chính thức ra dòng sản phẩm đầu tiên. Mỗi năm nhà máy cung ứng 800 nghìn tấn đạm ure, chủ yếu cung cấp cho khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Dự kiến cuối tháng 3/2012, Nhà máy đạm Ninh Bình sẽ bắt đầu đi vào hoạt động, cung cấp khoảng 560 nghìn tấn/năm. Như vậy, tổng công suất ngành phân bón sẽ tăng lên khoảng 2,4 triệu tấn và có dư xuất khẩu. Sản phẩm của Nhà máy Đạm Cà Mau.Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Công Thương, nguồn cung phân bón có dồi dào nhưng khả năng tăng giá phân bón có thể xảy ra do giá khí LPG nhập khẩu được điều chỉnh tăng từ 2 – 5%.Theo báo cáo nhanh của Bộ Công Thương, tháng 1, tình hình sản xuất phân bón các loại giảm nhiều so với cùng kỳ. Đạm ure giảm 20,3%, phân lân giảm 5,8%, phân NPK giảm 35,4%. Trong khi đó, thị trường phân bón tháng 1 không nhiều biến động do vụ Đông Xuân tại khu vực phía Nam đã ổn định, nhiều địa phương phía Bắc đã xuống giống.Tổng cục Hải quan cho biết, trong tháng 1, phân bón nhập khẩu đạt gần 180 nghìn tấn, kim ngạch 80 triệu USD. Tuy nhiên, vào giữa năm trở đi, Việt Nam chỉ nhập khẩu một số phân bón cần thiết với khối lượng nhỏ và có khả năng sẽ xuất khẩu ure.Đức Chính. Tối 25-12, tại Thủ đô Phnom Penh, Campuchia, Hiệp hội các Nhà đầu tư Việt Nam sang Campuchia AVIC phối hợp Hội đồng Phát triển Campuchia CDC tổ chức sơ kết ba năm hoạt động xúc tiến đầu tư-thương mại Việt Nam sang Campuchia. Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Hoàng gia Campuchia Men Sam An; Bộ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng phát triển Campuchia Sok Chenda và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Campuchia Ngô Anh Dũng đã tham dự.Theo báo cáo của AVIC, tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu Việt Nam-Campuchia trong năm 2012 đạt khoảng 3,3 tỷ USD, tăng 17,8% so với năm 2011. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Campuchia sang Việt Nam đạt 420 triệu USD tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2011; kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia đạt 2,52 tỷ USD tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2011, đứng thứ hai trong các quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại với Campuchia. Năm 2012 Việt Nam có 124 dự án đầu tư vào Campuchia với tổng vốn 2,5 tỷ USD, tăng 34 dự án và hơn 500 triệu USD so với năm 2011, đưa Việt Nam vào nhóm năm nhà đầu tư lớn nhất tại Campuchia. Hoạt động du lịch cũng đạt được những tín hiệu tích cực khi Việt Nam tiếp tục đứng đầu về lượng khách du lịch đến Campuchia với 638 nghìn lượt khách du lịch Việt Nam đến Campuchia trong 10 tháng đầu năm nay, tăng 24% so với cùng kỳ và lớn hơn 6,3% so với cả năm 2011, chiếm 22,3% lượng khách du lịch quốc tế đến Campuchia. Dự báo, cả năm 2012 lượng khách sẽ đạt hơn 750 nghìn lượt, tăng 25% so với năm 2011.Trong ba năm, hoạt động đầu tư của Việt Nam đã đóng góp khoảng 5% GDP vào tăng trưởng kinh tế và hàng trăm triệu USD vào thu ngân sách của Campuchia; tạo hơn 30 nghìn việc làm cho người lao động Campuchia… Chủ tịch AVIC Trần Bắc Hà cho biết, đến năm 2015 đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Campchia có thể đạt từ ba đến 3,2 tỷ USD; kim ngạch thương mại hai chiều đạt 5 tỷ USD và du lịch tăng trưởng hơn 30%/năm; đưa vào vận hành từ năm đến bảy dự án dự án Bệnh viện Chợ Rẫy – Phnompenh; Nhà máy đường cồn điện 2….Cùng ngày 25-12, tại Xã Som-Rong-Thom, huyện Kiên-Sway, tỉnh Kandal Campuchia, Công ty Phân bón Năm Sao đã khánh thành Nhà máy phân bón NPK. Dự buổi khánh thành có Thủ tướng Chính phủ hợp quy, phân bón npk Hoàng gia Campuchia Samdech Hunsen, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Hoàng gia Campuchia Men Sam An… Nhà máy phân bón NPK có tổng mức đầu tư 79 triệu USD 100% vốn đầu tư của Việt Nam, công suất 350.000 tấn/năm, đồng thời là tổng kho dự trữ phân bón và kinh doanh, xuất-nhập khẩu phân bón tổng hợp tại Campuchia. Dự án này được khởi công xây dựng vào tháng 12-2009. Con số nhập khẩu ở trên còn cách khá xa so với mục tiêu đặt ra cho năm nay là nhập khẩu 4,6 triệu tấn với giá trị dự kiến là 1,67 tỷ USD. Nguồn cung phân bón trong nước tăng và việc tăng thuế nhập khẩu phân ure được cho là nguyên nhân giúp phân bón nhập khẩu giảm. Số liệu của Bộ Công thương cho thấy trong 10 tháng đầu năm, sản lượng phân đạm urê của cả nước ước đạt 1,82 triệu tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2013; còn phân NPK đạt hơn 2 triệu tấn, tăng 0,1%. Tính riêng Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, sản lượng phân urê 10 tháng ước đạt 454,3 nghìn tấn, tăng 22,3% so với cùng kỳ; sản lượng phân NPK ước đạt 1.501 nghìn tấn, tăng 0,8%; sản lượng phân DAP ước đạt 225,3 nghìn tấn, tăng 22,5%. Trước đó, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 131/2014/TT-BTC, điều chỉnh tăng mức thuế nhập khẩu phân urê từ 3% lên 6%, có hiệu lực từ ngày 10/9/2014. Trong cuộc họp báo tuần trước, đại diện vụ Xuất Nhập khẩu của Bộ Công Thương cho biết hiện tại Việt Nam đã đảm bảo được nguồn cung ure trong nước, còn phân NPK đã có thể xuất khẩu. Trung Nghĩa - NDH .. Thời kỳ bón Liều lượng bón Cách bón Trồng mới 400-500kg NPK 12.8.12 Phân NPK Văn Điển loại 12.8.12 trộn đều đất trong hố trước khi đặt bầu Năm thứ 2 1.000 – 1.200kg NPK 12.8.12 Phân NPK Văn Điển được chia bón 3-4 lần vào các thời điểm. Khi cây tiêu ra hoa, khi cây đã đậu quả và bón sau thu hoạch Năm thứ 3 1.600-1.800kg NPK 12.8.12 Thời kỳ kinh doanh 2.200 - 2.500kg NPK 16.6.16. Tương tự như NPK 16-16-8-13 S trước đây, phân NPK 20-20-15 được gọi là công thức vàng” vì chúng sử dụng được cho nhiều loại cây trồng ở các giai đoạn sinh trưởng và phát triển khác nhau nên sản lượng tiêu thụ hàng năm ở ĐBSCL rất lớn. Trên thị trường bán lẻ hiện nay, đứng đầu bảng là NPK 20-20-15 + TE của Cty Phân bón Bình Điền có giá 710.000 đ/bao, sản phẩm cùng loại của những thương hiệu kém hơn được bán với giá 680.000 – 690.000 đ/bao, nhưng vẫn có những sản phẩm có bao bì rất đẹp của những công ty vốn là con đẻ của những đại lý cấp 1 chỉ bán với giá 560.000 – 580.000 đ/bao. Theo tính toán của nhà sản xuất, căn cứ vào giá nguyên liệu N, P, K thì nếu đảm bảo đủ hàm lượng và khối lượng, cho dù với công nghệ cuốc xẻng thì giá xuất xưởng phải là 620.000 đ/bao. Có sẵn hệ thống đại lý cấp 2, 3, lại thân thuộc nhiều với các cơ quan quản lý nhà nước do nhiều năm kinh nghiệm” nên các đại lý cấp 1 coi NPK 20-20-15 là mỏ vàng” tập trung khai thác bằng cách mở công ty sản xuất, thậm chí có đại lý ở Hậu Giang mở đến 2 công ty cùng lúc. Mặt phải và trái bao phân PHÂN KHOÁNG CAO CẤP 20-20-15+TE của Cty CP Hợp lực quốc tế Đăng ký công ty, đăng ký nhãn hàng xong họ cũng chẳng cần mở xưởng mà hầu hết đặt gia công cho những công ty khác đã có sẵn thiết bị, nhà xưởng nhưng ra hàng không được” vì không chịu nổi áp lực cạnh tranh. Khu công nghiệp Tân Kim Long An có hơn 10 công ty chuyên sản xuất phân bón nhưng có đến phân nửa chuyên nhận hàng gia công. NPK 20-20-15 kém chất lượng đã bóp nghẹt phân đúng chất lượng. Trong tất cả các nhà sản xuất có sản lượng tiêu thụ lớn ở ĐBSCL trước đây như phân bón Con Ó, phân bón Năm Sao, phân bón Việt Nhật, phân bón Đầu Trâu, phân bón Con Cò thì trụ lại được vững chắc ở thị trường này hiện chỉ còn mỗi phân bón Bình Điền và con đường xuất khẩu được lựa chọn thay cho thị trường trong nước. Tại sao nông dân không phân biệt được hàng kém chất lượng? Một điều tra của Đại học Cần Thơ cho thấy, có đến 70% nông dân quyết định mua phân bón và thuốc BVTV theo chỉ dẫn của đại lý, đấy là chưa kể tâm lý mua nợ cuối mùa trả hiện đang phổ biến. Một công ty nhỏ chuyên phân phối VTNN cho biết: Phải tìm nguồn hàng sao cho mỗi bao phân đại lý lời được 40.000-50.000 đ thì họ mới nhận. Theo tính toán của họ, sản xuất phân kém chất lượng thì nhà sản xuất lời 1 triệu/tấn, đại lý lời 1 triệu/tấn. Nếu bị bắt mà không chạy thuốc” được họ chỉ bị phạt 50 triệu/vụ. Mỗi lô hàng thường là 100 tấn nên họ vẫn yên tâm sản xuất”. Mặt khác, người nông dân còn bị đại lý qua mặt vì mẫu mã của họ đều rất đẹp. Sản phẩm NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu, đơn vị sáng tạo và tiên phong công thức phân bón này, là phân trộn có 4 viên 4 màu gồm: trắng đục của urê, xanh hay đen của DAP, đỏ nâu của kali và 1 viên nhỏ màu tím của trung và vi lượng. Bắt chước Bình Điền, phân kém chất lượng hiện nay cũng có 4 màu, thậm chí 5 màu nhưng màu tím hoặc nâu, hoặc xám không phải trung vi lượng mà là viên Jeolite được sản xuất tại Phú Yên có giá rất rẻ. Jeolite có thành phần chính là là ô xít Silic và ô xít nhôm nên cũng được các đại lý gọi là trung vi lượng. Đặc biệt viên phân Vedagro có màu đen và kích thước giống hệt viên DAP của Mỹ nên khi mở bao phân ra vẫn có 3 viên 3 màu rất đẹp, vậy là nông dân sập bẫy. Nếu đúng là hạt jeolite cũng là còn may, vì nhiều mẫu phân hạt này không phải là jeolite mà là cao lanh đất sét trắng, đã có các công ty ở Tân Uyên, Bình Dương chuyên sản xuất viên cao lanh đi bỏ mối. Theo công thức hóa học, thì tỷ lệ viên thứ 4 này không thể quá 5%, nhưng đa số phân NPK 20-20-15 của các công ty nhỏ hiện nay đều có tỷ lệ viên thứ 4 lên đến 10, thậm chí 15-20%. Đấy là cơ sở để họ bán giá rất thấp nhưng vẫn lời khẳm. Không những làm kém chất lượng, họ còn đánh lừa nông dân một cách trắng trợn. Sản phẩm PHÂN KHOÁNG CAO CẤP 20-20-15+TE sản xuất theo công nghệ Thái Lan của Cty CP Hợp lực quốc tế ở khu Cầu Xéo, thị trấn Long Thành, Đồng Nai có bao bì hoành tráng in bằng 2 thứ tiếng – Việt và Thái. Với kiểu bao bì trên người tiêu dùng cứ tưởng rằng đấy là NPK 20-20-15 nhưng thực chất chỉ có 20N, 15K 2 O còn 20 kia là hữu cơ. Cách thức trộn hữu cơ cũng vô cùng đơn giản bằng cách họ mua phân hữu cơ Vedagro của Vedan làm từ chất thải trong quá trình sản xuất bột ngọt. Vedagro không những có hàm lượng hữu cơ rất cao 46% mà còn chứa nhiều vi lượng nên nhà sản xuất cũng gọi là + TE. Từ đầu tháng 9 đến nay, phân bón đã 2 lần tăng giá với mức tăng bình quân từ 20.000-50.000 đồng/bao 50kg so với tháng trước. Trong đó, urê Phú Mỹ tăng từ 15.000-25.000 đồng/bao.Tương tự, phân DAP Trung Quốc tăng thêm khoảng 10.000-40.000 đồng/bao. Tuy nhiên, đó chỉ mới là giá bán phân tồn kho, phân mới nhập về tại các cửa hàng còn có giá cao hơn. Hiện phân NPK Đầu Trâu 20-20-15 Bình Điền và NPK 20-2015 Cò Bay ở mức 350.000-360.000 đồng/bao; phân NPK 16-16-8 Việt Nhật... Trong khi đó, thời điểm này, ĐBSCL đang trong mùa lũ, nhu cầu tiêu thụ phân bón gần như không có.Theo phân tích của các nhà bán lẻ, bên cạnh sự ảnh hưởng của thị trường thế giới, giá phân bón Việt Nam lên cao còn còn có yếu tố đầu cơ của một số nhà phân phối. Nhiều người buôn bán phân bón ở ĐBSCL đang phàn nàn về việc cung cấp phân bón có địa chỉ của Nhà máy đạm Phú Mỹ, khiến nhiều hop quy, phan bon npk cửa hàng kinh doanh đành phải mua lại từ một vài nhà phân phối với giá cao hơn. Vì vậy, khả năng khan hàng và sốt giá phân bón cục bộ trong vụ đông xuân 2007-2008 là hoàn toàn có thể xảy ra. Sp; Chi cục HQ Bắc Phong Sinh Quảng Ninh 2. Xe trượt thể thao trẻ em trên 3 tuổi, hiệu XIAOLIMING 4,83 USD/cái Chi cục HQ Bắc Phong Sinh Quảng Ninh 3. Bầu quạt điện dân dụng loại đứng hiệu Komasu 2,88 USD/cái Chi cục HQ Bắc Phong Sinh Quảng Ninh 4. Thạch cao tự nhiên dạng khoáng chất chưa nung 9 USD/T Chi cục HQ CK Lao Bảo Quảng Trị 5. Ammonium nitrate NH4NO3>99,5% TQSX 990 USD/T Chi cục HQ CK Lào Cai 6. SODIUM TRIPOLY PHOSPHATE STPP 1.070 USD/T Chi cục HQ CK Lào Cai 7. Dây dẫn tín hiệu bọc nhựa dạng cuộn 0,21 CNY/mét Chi cục HQ CK Trà Lĩnh Cao Bằng. 8. Cát vàng thiên nhiên 2,5 USD/m3 Chi cục HQ CK Vĩnh Xương An Giang 9. Than cốc luyện từ than đá 3.130 CNY/T Chi cục HQ ga đường sắt Lào Cai10. Tủ bảo quản thực phẩm làm lạnh 200 USD/cái Chi cục HQ Tân Thanh Lạng Sơn 11. Máy đóng nút chai 220 v/370w. JY 7134 25 USD/cái Chi cục HQ Tân Thanh Lạng Sơn 12. Điện trở cố định công suất 1/4w 15,9 CNY/kg Chi cục HQ Tân Thanh Lạng Sơn 13. Thâm micro dài Xuất khẩu 1. Đá xây dựng đánh bóng, vát cạnh 80x40x3cm 35 USD/m2 Chi cục HQ cảng Thanh Hóa 2. Chè xanh khô 15.000 VND/kg Chi cục HQ CK Chi Ma Lạng Sơn 3. Tinh bột sắn 2.550 CNY/T Chi cục HQ CK Chi Ma Lạng Sơn 4. Máy dập lúa liên hoàn không kém động cơ 7.640.000 VND/cái Chi cục HQ CK Chi Ma Lạng Sơn 5. Bánh đậu xanh Chí Hường 18.000 VND/kg Chi cục HQ CK Chi Ma Lạng Sơn 6. Bong bóng cá tra đông lạnh 1,53 USD/kg Chi cục HQ CK Hoành Mô Quảng Ninh 7. Tôm càng nguyên con IQF 8,59 USD/kg Chi cục HQ CK Hoành Mô Quảng Ninh 8. Vỏ bao PP 0,35 USD/cái Chi cục HQ CK Thường Phước Đồng Tháp 9. Thép ống kẽm phi 49x3,2mmx6m 1,28 USD/kg Chi cục HQ CK Tịnh Biên An Giang 10. Thép gai xây dựng phi 12x12m 0,73 USD/kg Chi cục HQ CK Tịnh Biên An Giang 11. Phân bón NPK 16-16-8 13S VNSX 580 USD/T Chi cục HQ CK Tịnh Biên An Giang 12. Phân NPK 16-16-8-13S 680 USD/T Chi cục HQ CK Vĩnh Xương An Giang .
chung nhan hop quy phan bon Nguồn nguyên liệu trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở Thừa Thiên - Huế cùng như nhiều vùng nông thôn khác trong cả nước bao gồm bèo lục bình, rác thải sinh hoạt, rơm rạ sau mỗi mùa vụ kết thúc tồn đọng rất lớn, làm ô nhiễm môi trường và nhất là tạo sự lo lắng cho người dân, chính quyền sở tại. Áp dụng mô hình và chuyển giao kỹ thuật nói trên cho hàng trăm hộ dân trong vùng thuộc các xã, phường: Thủy Thanh, Thủy Vân, Thủy Lương, Thủy Châu thị xã Hương Thủy cho thấy sau từ 45 - 60 ngày trộn ủ theo đúng quy trình kỹ thuật, đã cho ra sản phẩm phân hữu cơ sinh học đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng. Với thành phẩm này, nhiều gia đình sử dụng bón cho cây hoa, cây sinh trưởng và phát triển tốt, hoa thu hoạch có chất lượng cao, mức độ nhiễm bệnh nhẹ hơn, màu sắc lá và hoa tươi, sáng hơn so với diện tích cây hoa đối chứng không được bón phân hữu cơ vi sinh. Nhiều diện tích lúa, rau, màu phát triển nhanh, đặc biệt kháng được bệnh, tạo độ mùn và tơi xốp cho đất. Từ hiệu quả về chất lượng sản phẩm và kinh tế, hiện mô hình chế biến phân hữu cơ sinh học nói trên đang được nhân rộng ra nhiều địa bàn khác trong tỉnh Thừa Thiên - Huế.../. Sản phẩm tạo hạt bằng công nghệ hơi nước có ưu điểm là chất lượng hoàn toàn ổn định, không gây thất thoát nhiều đạm trong quá trình sấy, tăng độ cứng và cường lực của hạt NPK. Theo ông Tường, nhu cầu nhập khẩu phân bón NPK và phân lân nung chảy từ các nước Malaysia, Indonesia đang rất cao. Vì vậy quy định tạm dừng xuất khẩu phân bón như hiện nay đang hạn chế việc cân đối nhập xuất của doanh nghiệp. Trong thực tế canh tác hiện nay, bà con nông dân mới chỉ bón các yếu tố phân bón đa lượng NPK song vẫn chưa cân đối. Hầu hết chưa sử dụng các nguyên tố dinh dưỡng trung, vi lượng cho nên cây cam đậu quả kém dễ nhiễm sâu bệnh, độ đồng đều của quả thấp giai đoạn quả chín hay nứt quả và ảnh hưởng lớn đến chất lượng. Bón NPK Văn Điển cho cây cam vỏ quả bóng có độ đồng đều cao, không nứt quả chín đều, độ ngọt cao Nắm bắt được những nhu cầu thiết yếu của cây cam, Công ty CP Phân lân nung chảy Văn Điển cho ra đời sản phẩm phân bón NPK chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng NPK các chất trung lượng can xi, ma nhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, mô líp đen... Với những tỷ lệ thích hợp chuyên dùng cho cây cam. Điểm khác biệt là các chất dinh dưỡng ở trong phân bón đa yếu tố NPK Văn Điển hầu hết không bị rửa trôi mà nằm trong đất cung cấp dinh dưỡng lâu bền cho cây cam. Đặc biệt trong phân bón có hàm lượng vôi cao đã cải tạo đất nâng độ pH của đất thích hợp cho cây cam sinh trưởng phát triển. Để bà con nông dân chăm bón cho cây cam đạt năng suất cao, chất lượng quả tốt chúng tôi xin giới thiệu cách sử dụng phân bón đa yếu tố NPK Văn Điển như sau: Chủng loại phân bón: NPK 5.10.3 dạng viên N = 5%, P 2 O 5 = 10%; hop quy, phan bon npk K 2 O = 3%; S = 2%; MgO = 9%; CaO = 15%; SiO 2 = 14% và các chất vi lượng B, Zn, Mn, Cu, Co... Tổng dinh dưỡng 58%. NPK 16.6.16 N= 16%; P 2 O 5 = 6%; K 2 O = 16%; S = 2%; MgO = 5%; CaO = 8%; SiO 2 = 7% và các chất vi lượng B, Zn, Mn, Cu, Co... Tổng dinh dưỡng 60%. Liều lượng bón: Lượng bón nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : độ phì đất, tuổi cây, giống... Lượng phân ĐYT - NPK Văn Điển bón cho 01 cây cam/năm được khuyến cáo như sau: Đơn vị tính: Kg/cây Chủng loại phân bón Tuổi cây năm 2 - 4 5 - 10 > 10 Phân hữu cơ hoai 20 - 30 35 - 40 45 - 50 Phân NPK 5.10.3 dạng viên 1,5 - 2,0 2,0 - 3,0 4,0 - 4,5 Phân NPK 16.6.16 1,5 - 2,5 2,5 - 3,5 3,5 - 4,0 Thời kỳ bón và lượng bón: - Bón lần 1 đón hoa: Tháng 1 - 2 bón 60% lượng NPK 16.6.16 Văn Điển. - Bón lần 2 thúc quả: Khi quả bằng ngón tay: Bón 40% lượng NPK 16.6.16 Văn Điển còn lại. - Bón lần 3: Sau thu hoạch quả khoảng 25 - 30 ngày. Bón 100% NPK 5.10.3 Văn Điển. Cách bón: Đào rãnh xung quanh tán cây rộng 20 - 25cm, sâu 5 - 10cm, rải phân sau đó lấp đất kín phân. - Riêng bón phân lần 3 sau thu hoạch quả tháng 11, tháng 12. Đào rãnh cách gốc 1m, sâu 5 - 15cm, rộng 20 - 25cm, rải phân hữu cơ hoai và 100% lượng phân NPK 5.10.3 sau đó lấp đất kín phân: Lưu ý: Bón NPK Văn Điển cho cây cam, cây khỏe, lá xanh sáng, lá dày, ít nhiễm sâu bệnh, tỷ lệ đậu quả cao, vỏ quả bóng có độ đồng đều cao, không nứt quả chín đều, độ ngọt cao, bảo quản lâu dài sau thu hoạch. Nắm bắt được những nhu cầu thiết yếu của cây cam, Công ty CP Phân lân nung chảy Văn Điển cho ra đời sản phẩm phân bón NPK chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng NPK các chất trung lượng can xi, ma nhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, mô líp đen... Với những tỷ lệ thích hợp chuyên dùng cho cây cam.. CÔNG TY CP PHÂN LÂN NUNG CHẢY VĂN ĐIỂN - Đơn vị đạt 4 danh hiệu Anh hùng - Giải thưởng Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO - DN phân bón duy nhất đạt TOPTEN Thương hiệu Việt 2011 - TOPTEN Sản phẩm vàng Việt Nam 2012 - Địa chỉ: Đường Phan Trọng Tuệ, Thanh Trì, Hà Nội - Điện thoại: 043.688.4489 - Fax: 043.688.4277 - Website: vafco.vn. Nguồn phân bón trong nước đang cung lớn hơn cầu. Ảnh: S.T Ngành phân bón và hóa chất hiện đang giảm sản lượng, so với cùng kỳ, sản lượng phân NPK tháng 11 ước đạt 21.300 tấn giảm 9,5%; phân DAP ước đạt 26.000 tấn, giảm 4,5%; phân urê ước đạt 208.100 tấn, giảm 19,1%. Tính chung 11 tháng so với cùng kỳ, phân NPK ước đạt trên 2,2 triệu tấn, giảm 3%; phân DAP ước đạt 210.000 tấn, giảm 19,2%; riêng sản lượng phân urê ước đạt gần 1,9 triệu tấn, tăng 19,8%. Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, các loại phân bón nhập khẩu trong 9 tháng 2013 đã đạt tới 3,36 triệu tấn, tăng 20,5% so với cùng kì với trị giá tương đương 1,26 tỷ USD tăng 5,3% yoy. Trong đó, sản lượng urê nhập khẩu lên đến 546,3 nghìn tấn +25,1% yoy và đạt trị giá 184,4 triệu USD +2,7% yoy. Sát ván trên thị trường nội địa Các nhà sản xuất trong nước đang phải giảm sản xuất do nguồn cung trong nước đang lớn hơn cầu. Hiện giá phân urê Phú Mỹ từ đại lý cấp 1 phân phối đến đại lý cấp 2 hoặc bán cho nông dân có giá 8.400-8.600 đồng/kg, còn nhà máy bán cho đại lý 7.400-7.600 đồng/kg, tăng bình quân 200 đồng/kg so với cách đây 1 tháng; giá phân urê hạt đục Cà Mau dao động từ 7.800-8.300 đồng/kg tại các tỉnh phía Nam. Để đẩy mạnh sản xuất, các doanh nghiệp ngành phân bón hiện đang triển khai nhiều hoạt động chạy đua tiếp cận khách hàng theo cách thức cung cấp thông tin, cung cấp khuyến mãi... Các doanh nghiệp phân bón hiện đã cảm nhận rất rõ độ khó của thị trường. Trong lĩnh vực phân ure, hiện Tổng Công ty Phân bón và hóa chất dầu khí-Đạm Phú Mỹ DPM là 1 trong 2 doanh nghiệp trong nước lớn nhất tính trên công suất thiết kế đạt 800.000 tấn/năm. Có thể nhìn từ câu chuyện của DPM để thấy cái khó chung của các doanh nghiệp khác. Thực ra, sự giảm sút lợi nhuận của DPM có nguyên nhân từ việc Nhà máy DCM thuộc Công ty TNHH MTV Phân bón Dầu khí Cà Mau tách ra khỏi DPM hồi tháng 11-2012 và trở thành đối thủ” cạnh tranh trực tiếp với DPM bởi có cùng loại sản phẩm và công suất thì tương đương. Đã vậy, DCM lại có lợi thế địa lý khi nằm ngay ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa của cả nước và cũng là thị trường tiêu thụ phân đạm lớn nhất nước. Do đó, việc sụt giảm 43,6% doanh thu trong quí III-2013 của DMP so với cùng kỳ năm trước cũng giống như chỉ báo về việc cạnh tranh ngày một khắc nghiệt tại thị trường trong nước. Chưa hết, các doanh nghiệp, kể cả DPM hay DCM, cũng đang phải gặp vấn đề về sự sụt giảm của giá đạm Ure do nhu cầu phân bón đang giảm bởi yếu tố thời vụ vụ Hè Thu đã khép. Thêm nữa, sản lượng sản xuất đạm Ure trong nước hiện đang không ngừng tăng, đáp ứng được tới 80% nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong nước và được dự báo sẽ cung vượt cầu trong thời gian tới. Mặt khác, sự đổ bộ của phân bón nhập khẩu càng khiến sức ép cạnh tranh trên thị trường này tăng lên. Hiện, 90% sản lượng urê nhập khẩu có nguồn gốc từ Trung Quốc, vốn có giá bán thấp hơn khoảng 500-700 đồng/kg so với giá ure sản xuất trong nước. Các doanh nghiệp sản xuất trong nước hiện cũng gặp khó về các khoản nợ vay. Tỷ lệ nợ vay trung bình của ngành này là 48% và chủ yếu ngắn hạn. Trong đó, tỷ lệ nợ vay của một số doanh nghiệp niêm yết trong ngành phân bón khá cao như như Công ty CP Vật tư Tổng hợp và Phân bón Hóa sinh HSI đang có tỷ lệ nợ vay 84% hay như Công ty CP Supe Phốt Phát và Hóa chất Lâm Thao LSS có tỷ lệ nợ vay 52%, điều này dẫn đến những khó khăn trong thanh toán và tình trạng tài chính của doanh nghiệp không đảm bảo. Chưa hết, trong 9 tháng qua, cũng chính HSI đang có tình trạng kinh doanh lãi âm và lũy kế cả lãi âm của cả năm 2012. Còn LSS tuy khả quan hơn nhưng lại có lượng hàng tồn kho rất cao nên khả năng thanh toán bị trì đọng. Âu lo khi ra thị trường quốc tế Một khi cơ hội ở thị trường nội địa không còn dồi dào, đầu tư ra thị trường nước ngoài, khai phá các thị trường nông thôn của các quốc gia trong khu vực Asean là hướng mà hầu hết các doanh nghiệp ngành phân bón đều tính toán. Hiện tại, tại các thị trường như Campuchia, Trung Quốc, thậm chí ở một số thị trường xa hơn như Úc, các doanh nghiệp Việt Nam như DPM, DCM, Phân bón Năm Sao, HSI, Phân bón Bình Điền... Đều đã có mặt. Đặc biệt, tại thị trường Campuchia với khu vực Biển Hồ - vùng đồng bằng thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và tạo nên trung tâm Campuchia, các doanh nghiệp ngành phân bón Việt đã rất quan tâm đẩy mạnh khâu làm thị trường”. Tuy nhiên, mức độ thâm nhập thị trường lân cận của doanh nghiệp ngành phân bón hiện vẫn chưa mang lại hiệu quả cao. TS Đặng Kim Sơn - Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách nông nghiệp, nông thôn lo lắng khi Việt Nam, một đất nước có trụ đỡ từ nông nghiệp mà lại chưa đầu tư đủ và đúng mức vào những lĩnh vực máy móc công nghiệp và sản xuất phân bón. Nhưng đáng lo ngại hơn còn bởi chuyện sống còn của doanh nghiệp lúc này liên quan rất nhiều đến khả năng thích nghi với hội nhập sâu rộng. Nhất là khi Hiệp định TPP được ký kết, doanh nghiệp được xác định sẽ đối diện rủi ro lớn nhất, 5 ăn 5 thua, hay thậm chí có lĩnh vực sẽ bị xóa sổ, ông Sơn khuyến nghị. Nhìn ở góc độ vĩ mô, ông Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam thực sự quan ngại cho đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam trước thềm TPP được ký kết. Lúc này hàng phân bón nhập khẩu của doanh nghiệp trong nước còn đang cạnh tranh chật vật trên ngay chính sân nhà với sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc với giá thành thấp hơn hẳn, thì ít nữa sẽ rất dễ mất thị trường vào tay hàng nhập khẩu. Hơn lúc nào hết, các doanh nghiệp ngành phân bón đã nhận được cảnh báo về nguy cơ cao này. Họ đã ứng đối theo cách mở mang ra thị trường nước ngoài, nhưng như thế là chưa đủ nếu mỗi doanh nghiệp không tự cải thiện nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, bà Nguyễn Thu Trang - Giám đốc trung tâm WTO VCCI đưa ra khuyến nghị. Phương Huyền. Ở nước ta, chuối là cây ăn quả được xếp hàng đầu về tổng sản lượng và diện tích, nhưng bị một số bệnh ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và xuất khẩu. Trong tổng số Hợp quy, phân bón npk trên 30 giống khác nhau có 3 giống chuối phổ biến nhất: Chuối tiêu: Quả to, dài, vị thơm, ngọt. Năng suất cao. Sinh trưởng khỏe, có thể trồng nhiều nơi, miễn là đủ nước. Ưa vụ đông lạnh, hanh. Chuối tiêu có 3 giống: Chuối tiêu lùn cây cao không quá 2 m, chuối tiêu nhỡ cay cao 2,2 - 2,75 m và chuối tiêu cao thân cao 3,5 - 4,0 m. Chuối tây: Chuối tây quả to, mập, thơm, ngọt đậm. Năng suất cao. Chịu nóng, lạnh, có thể trồng được ở nhiều vùng đất miễn là đáp ứng nhu cầu nước. Chuối ngự: Cây cao 2,5 - 3,0 m. Quả nhỏ, ngắn nhưng có mùi thơm đặc biệt, năng suất thấp. Ngoài ra còn có các giống chuối khác như: chuối ngốp, chuối tiêu hồng, chuối bôm, chuối mơ giang, chuối mắn, chuối lá, chuối hột, v.v… Kỹ thuật trồng Yêu cầu đất trồng Chuối phát triển trên nhiều loại đất, nhất là ở các loại đất phù sa, dốc tụ. Nhưng để có năng suất cao, chất lượng tốt, chuối cần trồng ở những loại đất có tầng dày, đủ dinh dưỡng và đảm bảo đủ nước. Thích hợp với đất phù sa ven sông, suối, đất rừng mới khai phá nhiều mùn, thoát nước và giữ ẩm tốt. Trồng trong vườn nhà sau 1 năm đã cho thu hoạch. Chọn cây con Nên chọn cây con trên cây mẹ khỏe, không sâu, bệnh. Cây cao 1,2 -1,5 m, hình búp măng, gốc to, đường kính thân đo cách gốc 20 cm là 15 - 20 cm, ngọn nhỏ đang có lá cuốn. Thời gian đánh cây con tốt nhất sau khi thu hoạch buồng ở cây mẹ, không nên đánh cây con khi cây mẹ chưa trổ buồng hay đang trổ buồng để khỏi ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cây mẹ. Dùng mai hoặc thuổng đánh và tách cây con làm sao vết thương trên củ nhỏ nhất. Xử lý cây con: Gọt hết rễ trên củ, cắt ½ lá, để nguyên lá cuốn, dựng vào nơi râm mát, tránh xây xát, giập nát củ và bẹ lá. Vùi gốc chuối con vào tro bếp khô nguội. Thời vụ trồng - Ở các tỉnh miền Bắc, Bắc Trung bộ chuối thường trồng 2 vụ thu và xuân, nhưng vụ thu tháng 8 - 10 là chính; vụ xuân tháng 2 - 3 trồng cây dễ bén rễ, đạt tỷ lệ sống cao, song khi ra hoa gặp rét nên năng suất thấp, thậm chí không được thu hoạch. - Ở các tỉnh duyên hải Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và ĐBSCL thường trồng đầu hoặc sau vụ mưa. Mật độ trồng Khoảng cách trồng 2,5 x 2,0 m hay 3 x 2 m tức 1.600 - 2.000 cây/ha. Sau khi thu hoạch vụ thứ nhất chừa lại khoảng 2.500 cây con/ha tương đương 90 cây con/sào Bắc bộ. Bón phân Bón lót Cày sâu 30 - 40 cm, bừa kỹ, nhặt sạch cỏ. Đào hố sâu 40 - 50 cm, rộng 60 - 80 cm với đất đồi, sâu 30 - 40 cm, rộng 50 - 60 cm với đất đồng bằng. Bón lót cho 1 hố 10 - 15 kg phân chuồng hoai mục + 0,15 kg NPK-S 5.10.3.8 tương đương 300 kg/ha với mật độ 2.000 cây/ha. Trộn đều phân bón với lớp đất mặt rồi lấp hố lại, mặt hố phải sâu hơn mặt đất 10 - 15 cm. Sau khi trồng tưới nước giữ ẩm cho cây. Cách 1 ngày tưới một lần cho đến khi bén rễ trong vòng 2 tuần đầu. Sau khi trồng 1 tháng làm cỏ lần đầu tiên, sau đó cách 1,5 - 2 tháng làm cỏ một lần, giữ cho vườn sạch cỏ. Có thể trồng xen lạc, đậu tương hoặc các loại rau để tăng thu nhập và chống cỏ dại cho vườn chuối. Tổng lượng phân bón cho năm đầu và những năm tiếp theo sau khi thu hoạch buồng cây mẹ: Phân hữu cơ: 15 kg cho 1 hố hay 1 bụi, tương ứng 30 tấn/ha và được bón một lần vào cuối năm khi trồng mới hoặc ngay sau thu hoạch. Nếu đất chua cần bón vôi với liều lượng 0,2 kg/hố hay 400 kg/ha. Bón thúc - Bón thúc lần 1: Sau khi trồng 1 - 1,5 tháng sử dụng NPK-S 12.5.10-14 với liều lượng 1 kg/cây. - Bón thúc lần 2: Sau lần 1 từ 1 - 1,5 tháng sử dụng NPK-S 12.5.10-14 hoặc NPK- S 10.5.12-14 với liều lượng 2 kg/cây. - Bón thúc lần 3: Sau khi cây trổ buồng bón nuôi quả, sử dụng NPK- S 12.5.10-14 hoặc NPK-S 10.5.12-14 với liều lượng 1,5 kg/cây. Tỉa mầm và cắt bỏ hoa đực - Tỉa mầm là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nhưng ít được chú ý. Để tránh ảnh hưởng đến cây mẹ, nguyên tắc chung là chỉ để lại 1 - 2 cây con trên một gốc để thay cây mẹ. Phải làm sớm, đánh đi những mầm yếu, ra mầm không đúng thời vụ… - Sau khi chuối trổ buồng có 7 - 8 nải hoặc 11 - 12 nải lần lượt nở gồm toàn hoa cái. Sau đó nở hoa đực, cần cắt bỏ, có thể làm tăng khối lượng buồng 3 - 5%. Nên cắt vào buổi trưa để chóng khô nhựa, nấm bệnh khó xâm nhập vào cuối buồng. Kỹ thuật trồng chuối trên giúp các chủ vườn cải tạo hợp lý, đầu tư đúng mức, khai thác tốt mảnh đất của mình để đạt năng suất, chất lượng chuối cao, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình. Cty CP Supe phốt phát & hóa chất Lâm Thao đồng hành cùng với các bạn. Theo ước tính của Hiệp hội Phân bón, nhu cầu phân bón vụ đông xuân tại đồng bằng sông Cửu Long chỉ 700.000 - 800.000 tấn, nhưng lượng phân bón nhập khẩu hiện tồn kho gần 1 triệu tấn, phân bón trong nước sản xuất cũng tồn kho 1 triệu tấn. Dù cung” đang vượt cầu”, nhưng giá trong nước vẫn cao ngất ngưởng, bất chấp giá thế giới đang giảm mạnh. Giá quá cao so với thế giới Ông Nguyễn Hạc Thúy, Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón cho biết: Cách đây 3 tháng, giá thế giới của urê là 850 USD/tấn, nay giảm còn 200 USD/tấn; phân DAP từ 1.100 USD - 1.200 USD/tấn, giảm còn 500 USD/tấn; phân SA từ 440 USD/tấn giảm còn 145 USD/tấn. Tương tự, giá nguyên liệu phục vụ sản xuất phân bón cũng giảm đáng kể như lưu huỳnh từ 1.000 USD/tấn giảm còn 50 USD/tấn. Như vậy, giá urê nhập ngoại hiện khoảng 3.500 đ/kg; DAP, kali khoảng 8.500 đ/kg. Tuy nhiên, giá phân bón trong nước mới chỉ giảm nhỏ giọt và còn cách biệt nhiều so với giá thế giới. Chẳng hạn, giá phân DAP từ 10.000 - 13.000 đồng/kg, urê 5.300 đồng/kg, kali 10.000 đồng/kg. Theo nhận định của các chuyên gia trong lĩnh vực này, các mặt hàng phân NPK hiện chỉ mới giảm giá khoảng 20% dù giá nguyên liệu giảm đến 60%. Tại Đồng Tháp, thời điểm này năm ngoái, người mua đã tấp nập, hàng lấy về không kịp bán còn bây giờ thì rất ít người mua, do giá phân bón quá cao nên nông dân chưa thể mua dù thực tế lúa vụ đông xuân đang đói” phân bón.Nhiều nông dân đồng bằng sông Cửu Long phải đối mặt với nhiều khó khăn từ việc không tiêu thụ được lúa của 2 vụ trước và nợ ngân hàng nên không thể tiếp tục mua chịu phân bón, thuốc trừ sâu của đại lý. Nhập giá cao nên không thể bán giá thấp? Theo ông Lê Quốc Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón VN, các doanh nghiệp DN sản xuất, kinh doanh phân bón đang bị lỗ nặng. DN nhỏ lỗ khoảng vài chục tỉ đồng, còn DN lớn ít nhất cũng lỗ cả trăm tỉ đồng. Nguyên nhân do không dự báo được biến động của thị trường phân bón nên nhiều đơn vị đã nhập nguyên liệu từ giữa năm với giá cao trong khi hiện nay, giá thế giới đã giảm hơn phân nửa. Nếu muốn giải phóng hàng, cắt lỗ, DN phải giảm giá bán. Tuy nhiên, đến nay phần lớn các DN phân bón chưa giảm giá vì họ cho rằng đã nhập nguyên liệu giá cao nên không thể bán giá thấp. Khi nào tiêu thụ hết lượng hàng tồn kho thì mới tính đến phương án giảm giá phân bón. Ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt Bộ NN-PTNT, cho biết: Các DN đề nghị giảm thuế xuất khẩu, bỏ hạn ngạch xuất khẩu phân bón để giải quyết lượng phân bón còn tồn đọng nhằm thu hồi vốn, cắt lỗ.Tuy nhiên, để bảo đảm đủ phân bón phục vụ cho nông nghiệp, không thể bỏ hạn ngạch cũng như giảm thuế suất. Bên cạnh đó, bộ cũng đã đề xuất dãn nợ, dãn thời gian nộp thuế cho các DN sản xuất, kinh doanh phân bón; đồng thời đề nghị Chính phủ dãn nợ và thu mua lượng lúa tồn đọng để nông dân có thể mua phân bón phục vụ vụ mùa. Song, điều quan trọng nhất là các DN nên làm quen với quy luật giá cả phù hợp với diễn biến của thị trường.
.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét