Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

Với Cty CP đầu tư thương mại ôtô quốc tế và Cty CP truyền thông OXY do đơn vị mới được cấp giấy hợp quy cuối năm 2012 nên chưa tổ chức sản xuất và chưa có sản phẩm hợp quy cung cấp cho thị trường.

CHỨNG NHẬN ISO 14001 Phí thẩm xét hồ sơ công bố lần đầu phù hợp quy định ATTP đối với sản phẩm thực phẩm chức năng và thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng là 1


I. chứng nhận hợp quy phân vi lượng Các đội QLTT còn phát hiện hàng loạt cửa hàng tự in tem hợp quy để qua mặt các cơ quan chức năng


CÔNG TY CP PHÂN LÂN NUNG CHẢY VĂN ĐIỂN - Đơn vị đạt 4 danh hiệu anh hùng - Giải thưởng tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO - DN Phân bón duy nhất đạt TOPTEN Thương hiệu Việt 2011 - TOPTEN Sản phẩm vàng Việt Nam 2012 - Địa chỉ: Đường Phan Trọng Tuệ, huyện Thanh Trì, Hà Nội - Điện thoại: 043.688.4489 - Fax: 043.688.4277 - Website: vafco.vn. Có 2 loại tỏi: Tỏi ta và tỏi tây. Tỏi ta Allium sativum L. Là cây trồng lấy củ làm gia vị và làm thuốc, họ hành tỏi Laliaceae spp.. Nguồn gốc ở miền Tây châu Á, được trồng cách đây 2.000 năm. Các dạng hoang dại hiện còn tìm thấy ở Apganixtan, Iran, nơi có nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các mùa chênh lệch nhau rõ rệt. 2. Giống tỏi Các giống tỏi địa phương có tỏi gié, tỏi trâu, trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Các tỉnh duyên hải miền Trung có trồng giống tỏi nhập nội, củ to gọi là tỏi tây nhóm Alliumporrum L.. Ở các vùng tỏi chuyên canh như Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang… nông dân thường trồng 2 giống tỏi nhập khẩu từ Trung Quốc là tỏi trắng và tỏi tía. Tỏi trắng có đặc điểm lá xanh đậm, to bản, củ to. Đường kính củ đạt tới 4-4,5 cm. Khi thu hoạch vỏ lụa củ màu trắng. Giống tỏi này có khả năng bảo quản kém, hay bị óp. Tỏi tía, lá dày, cứng, màu lá xanh nhạt. Củ chắc và cay hơn tỏi trắng. Dọc thân gần củ có màu tía. Khi thu hoạch có màu trắng ngà. Mỗi củ có 10 - 11 nhánh. Đường kính củ 3,5 - 4 cm. Giống này được trồng nhiều hơn tỏi trắng. Năng suất của 2 giống tỏi trên đạt trung bình 8-10 tấn củ khô/ha 300 - 400 kg/sào Bắc bộ. 3. Kỹ thuật trồng 3.1. Thời vụ Ở đồng bằng sông Hồng, tỏi nằm trong công thức luân canh giữa 2 vụ lúa nên thời vụ thích hợp để trồng là 25/9 - 5/10, thu hoạch 30/1 - 5/2 vẫn đảm bảo đủ thời gia sinh trưởng và không ảnh hưởng đến thời vụ của lúa. Tuy nhiên, vì không có thời gian cho đất nghỉ nên việc làm đất phải tính toán từ chọn ruộng trồng đến chủ động chế độ nước cho lúa. Nếu để tỏi giống với thời gian sinh trưởng trên 140 ngày, tỏi phải trồng trên đất bãi ven sông, không cấy lúa xuân. Ở khu vực miền Trung, tỏi trồng vào tháng 9 - 10, thu hoạch củ vào tháng 1 - 2. 3.2. Làm đất, trồng củ Đất trồng tỏi chọn chân vàn cao, dễ thoát nước sau khi gặt xong lúa mùa sớm, làm đất kỹ và lên luống ngay để tránh gặp mưa muộn. Luống rộng 1,2 - 1,5 m, rãnh 0,3 m. Sau khi lên luống, rạch hàng bón phân. Mỗi luống trồng 5 - 6 hàng, khoảng cách hàng 20 cm. Đảo Lý Sơn Quảng Ngãi là vùng trồng tỏi nổi tiếng của nước ta, do luân canh nhiều vụ/năm nên đất nhanh hết dinh dưỡng, phải thay đất mới. Muốn SX, nông dân phải bồi lên trên 1 lớp đất thịt dày khoảng 2 cm. Sau khi đầm chặt lớp đất thịt, tiếp tục rải lên 1 lớp phân chuồng, sau đó phả lên 1 lớp cát được lấy từ biển cũng dày khoảng 2 cm rồi mới trồng tỏi. Lớp đất thịt có nhiệm vụ nuôi bộ rễ và bổ sung cho cây tỏi một số vi lượng. Còn lớp cát đá vôi được lấy từ biển trộn lẫn san hô vỡ vụn ở trên mặt tạo độ xốp giúp cho củ tỏi phát triển, nở to. Tỏi giống chọn những nhánh từ củ chắc, khối lượng củ 12 - 15 gr, có 10 - 12 nhánh. Mỗi ha cần 1 tấn tỏi giống 37 kg/sào Bắc bộ, khoảng cách hop quy, phan bon npk trồng mỗi nhánh 8 -10 cm, ấn sâu xuống đất 2/3 nhánh tỏi, phủ đất nhỏ lên trên. Sau khi trồng, dùng rơm rạ băm nhỏ phủ một lớp dày 5 cm để giữ ẩm và hạn chế cỏ mọc 3.3. Bón phân NPK-S Lâm Thao Tính theo một sào Bắc bộ là 360 m2 + Bón lót: Phân chuồng 700 - 800 kg nếu đất chua bón thêm 20 kg vôi bột. NPK-S 5.10.3-8 bón 24 - 26 kg + Bón thúc 1 sau trồng 14 - 21 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 7 - 8 kg. + Bón thúc 2 sau đợt 1 khoảng 20 - 25 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 7 - 8 kg. + Bón thúc 3 sau đợt 2 khoảng 15 - 20 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 7-8 kg. Tính cho 1 ha: + Bón lót, rải đều theo hàng và trộn kỹ: Phân chuồng 15.000 -20.000 kg nếu đất chua bón thêm 500 kg vôi bột. NPK-S 5.10.3-8 bón 660 - 720 kg. + Bón thúc 1 sau trồng 14-21 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 190-220 kg. + Bón thúc 2 sau đợt 1 khoảng 20 - 25 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 190 - 220 kg. + Bón thúc 3 sau đợt 2 khoảng 15 - 20 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 190 - 220 kg. 3.4. Chăm sóc Tưới nước đều đến khi cây mọc và khi có 3 - 4 lá thật thì tưới nước rành, thấm lên dần. Cả thời gian sinh trưởng tưới 4 - 5 lần. Trước mỗi lần tưới rãnh nên kết hợp bón thúc phân NPK-S Lâm Thao 12.5.10-8. Cây tỏi thường bị các bệnh như: bệnh sương mai Peronospora destructor Unger, bệnh than đen Urocystis cepula Porost. Cần sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được cho phép đối với từng bệnh. Củ thương phẩm thu hoạch sau khi trồng 125 - 130 ngày lúc lá đã già, gần khô. Chúc bà con nông dân đạt nhiều thành công trong vụ trồng tỏi sắp tới khi sử dụng phân NPK-S Lâm Thao.. Nở hoa vào ban đêm chỉ 1 đêm, thậm chí có đại lý ở Hậu Giang mở đến 2 công ty cùng lúc. Đại diện Công ty Phân lân Nung chảy Văn Điển thì cho hay: Trước Tết giá bán phân lân của công ty là 2.700 đồng/kg, cao su ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Kỹ thuật sử dụng phân bón cho cây đậu tương: Để đạt đậu đạt năng suất cao trung bình 2, đảm bảo tỷ lệ hao hụt thấp và tính thân thiện với môi trường. Liều lượng và tỷ lệ như sau: 40% N + 30% K20, tất cả đều quy về hàm lượng dinh dưỡng giống nhau.


Chủng loại Mía tơ Mía gốc Ghi chú Phân hữu cơ 20 – 30 tấn 20 - 30 tấn Loại tốt Bún lót: - Phân NPK 6-12- 5 chuyên lót mía 250 - 350 180 - 200 Bún thúc: - Phân NPK 15 - 5 - 20 chuyên thúc mía 500 - 600 500 - 600. Tổng biên tập: Nguyễn Đức DũngGiấy phép xuất bản số: 496/GP-BC  do Cục Báo chí, Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 09-11-2007Bản quyền thuộc về Báo Công an TP Đà NẵngGhi rõ nguồn "Báo Công an TP Đà Nẵng- CADN Online" khi phát hành lại thông tin từ website này. Anh Hoàng Đình Toại: Tôi được xóm thuê chở phân NPK về nhà anh Tấn xóm phó, sau đó xóm thông báo bán. Số phân bón tổng hợp NPK thành phẩm giả bị phát hiện lên đến khoảng 60 tấn. Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện 800 kg Kali, 400 kg đạm, 22 kg bột Canxi nhẹ Bột đá… không có hóa đơn, chứng từ; nhiều bao bì in tên các Cty phân bón nổi tiếng. Ông Nguyễn Văn Thư, Quản đốc phụ trách sản xuất, hop quy, phan bon npk khai Cty bắt đầu sản xuất phân bón giả từ năm 2011. Theo CQĐT, kết quả kiểm tra cho thấy các mẫu phân bón có thành phần chủ yếu là bột đá vôi.. Dây chuyền sản xuất phân bón tại Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm ThaoCôngThương - Sức tiêu thụ yếu, sản lượng giảm Số liệu của Bộ Công Thương cho thấy,t hị trường phân bón tháng 8 biến động không nhiều do vụ lúa hè thu ở đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL đang thu hoạch và nhu cầu sử dụng phân bón cho vụ thu đông tới chưa đáng kể. Biến động nhiều nhất ở nhóm phân NPK và lân nung chảy. So với tháng 7, sản lượng phân NPK tháng 8 ước đạt 203,1 nghìn tấn, giảm 2%; phân DAP ước đạt 16 nghìn tấn, giảm 31,3% do dây chuyền sản xuất trục trặc làm giảm mạnh công suất. Tính chung 8 tháng so với cùng kỳ, phân NPK ước đạt trên 1,6 triệu tấn, giảm 1,6%; phân DAP ước đạt 166 nghìn tấn, giảm 7,2%. Hiện một số vùng của ĐBSCL bắt đầu nhưng diện tích xuống giống chưa nhiều nên nhu cầu chưa cao. Mặt khác, các tỉnh miền Đông cũng đã qua thời kỳ chăm sóc cho các loại cây công nghiệp nên trong tháng 9 lượng tiêu thụ phân bón sẽ chậm. Ông Phạm Mạnh Ninh - Giám đốc Công ty CP Phân lân Ninh Bình - cho biết, so với cùng kỳ năm ngoái, sản lượng NPK sản xuất chỉ bằng 95%. Hiện công ty cũng gặp khó khăn với vấn đề tiêu thụ do giá nông sản xuống thấp, nhất là giá lúa gạo và cà phê, ảnh hưởng trực tiếp tới giá phân bón. Với mặt hàng lân nung chảy, do tiêu thụ chậm nên nhiều DN sản xuất mặt hàng này giảm giá, công ty cũng giảm giá theo. Tuy nhiên vẫn không bán được bởi người nông dân có tâm lý chờ giá xuống thấp nữa mới mua. Riêng với phân NPK, công ty không bị áp lực tồn kho, chỉ còn khoảng hơn 1.000 tấn do công ty sản xuất theo mùa vụ, đặt hàng tới đâu sản xuất tới đó. Ông Nguyễn Hạc Thúy - Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón: Sức tiêu thụ trong nước yếu và giá các loại phân bón trên thị trường thế giới giảm là nguyên nhân chính kéo giá phân đạm trong nước giảm xuống mức thấp trong một vài tháng tới. Cần nhất tính thời điểm” Ông Hoàng Văn Tại - Tổng giám đốc Công ty CP phân lân nung chảy Văn Điển - chia sẻ, 8 tháng đầu năm, sản lượng phân NPK của công ty sụt giảm 3% so với cùng kỳ. Đây đang là thời điểm khó khăn của DN vì tháng 9 không phải vào mùa vụ. Thời điểm tiêu thụ phân bón mạnh nhất của công ty là dịp Tết Nguyên đán hàng năm, khi công ty dồn sức cung ứng cho vụ đông xuân. Tuy nhiên, Tết Nguyên đán vừa qua, công ty lại không tiêu thụ được hàng vì bị… cấm đường! Theo Kế hoạch số 04 của Liên ngành Giao thông vận tải - Công an TP.Hà Nội từ ngày 28/1 đến 25/2/2013, cấm hoạt động trong giờ cao điểm với các loại xe ôtô vận tải có trọng lượng 1,25 tấn. Lệnh cấm đường đến gần 1 tháng đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc tiêu thụ hàng hóa của DN. Tháng 9 là khoảng thời gian nhàn rỗi” nhất của công ty vì chưa tới mùa vụ. Hiện công ty đang tồn lượng phân bón khá lớn, lên đến 40.000 tấn tổng sản lượng, trong đó tồn kho NPK khoảng 10.000 tấn. Để chấm dứt nghịch lý: Thời điểm nước sôi lửa bỏng” thì bị cấm đường, giai đoạn không mùa vụ thì lại đường thông hè thoáng”, chúng tôi đề nghị, đến mùa cao điểm, đừng cấm đường” - ông Tại kiến nghị. Trong bức tranh trầm lắng chung của thị trường phân bón, Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao lại có tín hiệu đáng mừng: 8 tháng đầu năm, tăng trưởng tốt, với sản lượng tiêu thụ phân NPK đạt 620,410 tấn, tăng 6,05% so với cùng kỳ năm ngoái; doanh thu tăng 6%. Bí quyết của DN cũng nằm ở chính tính thời điểm”: Do nắm bắt được yếu tố thị trường, công ty đã nhập được lưu huỳnh từ nước ngoài đúng thời điểm giá rẻ chỉ bằng 1/2 giá bình thường nên so với các đơn vị khác, giá thành NPK của công ty sẽ rẻ hơn. Việc này tạo điều kiện giảm giá thành phân bón cho nông dân, nâng cao năng lực cạnh tranh. Nguyễn Duyên Dây chuyền sản xuất phân bón tại Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao PHẢN HỒI. Trước đó, vào giữa năm 2009, lợi dụng thời điểm giá phân bón trên thị trường lên cao lại hiếm hàng, đối tượng Phạm Quang T trú tại xã Liên Đầm, huyện Di Linh đã mua phân NPK về trộn với cao lanh, muối, vôi bột, cho vào chảo quay ly tâm, phun bột màu tạo hạt rồi đem đóng bao in nhãn hiệu phân NPK đa yếu tố: 16-16-8-13S để đưa ra thị trường tiêu thụ.Phân NPK do T làm giả giống y như loại phân NPK thật nên rất nhiều người đã mua về sử dụng mà không hề hay biết. Sau khi bón phân, cà phê không nhưng không phát triển tốt mà còn bị rụng lá, thối quả, sau đó chết hàng loạt.Qua điều tra của ngành chức năng, chỉ trong một thời gian ngắn, Phạm Quang T đã làm giả hàng trăm tấn phân bón NPK bán thu lời bất chính trên 3 tỷ đồng. T đã bị TAND huyện Di Linh tuyên phạt 30 tháng tù giam với hai tội danh sản xuất bà buôn bán hàng giả.Những năm qua, nạn phân bón giả hoành hành tràn lan ở Lâm Đồng. Theo thống kê ban đầu của Hội nông dân tỉnh Lâm Đồng, đã có trên 3.400ha cà phê của người dân ở các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Đức Trọng và Lâm Hà bị hư hại nặng do dùng phải phân bón giả.K. L. DN phân bón thăm dò thị trường Đầu năm đón tin vui NM đạm Cà Mau đi vào hoạt động hòa nhịp cùng các NMSX phân bón trong nước, đánh dấu từ đây nước ta sẽ hoàn toàn chủ động nguồn cung cấp phân đạm cho nông dân. Trong khi đó, tưởng chừng các NMSX phân NPK sẽ thuận lợi, nhưng hoàn toàn bất ngờ khi ở ĐBSCL, đầu ra sản phẩm của loại phân này đang trong tình trạng vàng thau lẫn lộn. Cá bé bao vây cá lớn Điều dễ nhận ra sự hấp dẫn ở vùng SX lúa lớn nhất nước là có diện tích có thể thâm canh 3 vụ, có vườn cây ăn trái, vùng trồng rau màu, cây công nghiệp…nên thu hút mạnh mẽ các nhà SX-KD phân bón. Mỗi năm, khởi đầu từ vụ lúa ĐX trong vùng thu hoạch, các DN rải nhân viên kinh doanh rà khắp các đại lý chuẩn bị đưa hàng về. Tuy nhiên năm nay điều khác thường xảy ra với mặt hàng NPK. Một lãnh đạo kinh doanh phân bón ở ĐBSCL đã trực tiếp xuống các đại lý xem tình hình mua bán. Sau khi đi một vòng từ Đồng Tháp qua An Giang, Kiên Giang về Bạc Liêu, Cần Thơ ông thở dài: Phân bón các DN thuộc hàng thương hiệu tiếng tăm được nông dân tin dùng nhiều năm qua đang bị các DN nhỏ như tép con xé nát thị phần. Đầu năm đến nay chúng tôi bán ra chỉ hơn 1.000 tấn phân NPK, giảm 2/3 sản lượng so cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đón đầu vụ lúa HT, hàng NPK của các DNSX, chủ yếu là phân trộn, rất cơ động, linh hoạt, sẵn sàng cho tàu, xe đưa hàng xuống tới giao đại lý cấp 2, cửa hàng bán lẻ. Lẽ dĩ nhiên giá bán rẻ hơn 2.000 đ/kg so với các DN lớn có thương hiệu. Đơn cử như loại phân thông dụng NPK 20-20-15 giá 14.000 đ/kg, các DN nhỏ SX ra với đủ loại nhãn hiệu khác nhau chỉ bán ra chừng 12.000 đ/kg, tính ra rẻ hơn 70.000- 100.000 đ/bao 50 kg. Một cán bộ của DN có NMSX phân NPK có sản lượng lớn tại ĐBSCL thừa nhận trong tình hình vốn vay đã khó, nguồn nguyên liệu tuy dồi dào, không lo, nhưng vẫn lo nhất là khâu tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay có DN tồn kho và ế hàng. Tình hình này khiến nhiều DNSX chậm lại và nếu không mở được đầu ra XK sẽ đứng trước nguy cơ SX đình đốn. Dễ làm như… NPK Theo các chuyên gia trong ngành, ưu điểm phân bón NPK là có nhiều tỉ lệ dinh dưỡng phù hợp với từng loại cây trồng, từng loại đất và từng vùng khí hậu khác nhau. Lâu nay không thể phủ nhận việc SX phân bón NPK đã góp phần rất lớn vào sự phát triển nông nghiệp nước nhà. Tuy nhiên, thực trạng SX- KD hiện đáng lo ngại. Có thể nói chưa lúc nào lại có nhiều đơn vị SX phân bón NPK như hiện nay. Dân chuyên kinh doanh phân bón kể: Quanh các tỉnh miền Tây có trên 30 nhãn hiệu phân bón NPK mới lạ. Là người có thâm niên trong nghề đôi khi phải ngỡ ngàng trước một nhãn hiệu phân bón NPK lạ lẫm mới xuất hiện. Như vậy người nông dân sẽ chọn lựa như thế nào? Nhất là đứng trước trào lưu SX phân bón NPK theo dạng phân trộn của các đơn vị nhỏ lẻ, chỉ sau một vài năm nay đã nở rộ lên như nấm sau mưa. Gần đây hơn một số DN trước đây chỉ thuần kinh doanh nay bỗng dưng nhảy sang đăng ký SX phân bón, chủ yếu đua nhau SX hàng trộn NPK. Chỉ tính ở một số tỉnh từ Tây Ninh đến Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long… tỉnh nào cũng có DNSX phân bón NPK, thậm chí ở một tỉnh còn có từ 2- 3 đơn vị SX loại phân này. Trên thị trường, tên tuổi những DN quen thuộc như: Bình Điền, Việt Nhật, Baconco, Năm Sao, Hiệp Phước… nay gặp thêm hợp quy, phân bón npk nhãn hàng: Con Nai Vàng, Máy Cày, Ba con cò Vàng, Sen Hồng Huệ Liên, Hiệp Thanh, Hưng Thịnh, Mầm Xanh, Mùa Vàng… Vấn đề đặt ra là nếu chất lượng sản phẩm đảm bảo, giá cả cạnh tranh sẽ là mặt tích cực và có lợi cho nông dân. Tiếc rằng chính vì sự đa dạng của các loại sản phẩm vô hình trung đẩy nông dân lạc vào mê hồn trận của phân bón NPK. Hiện nay lo âu nhất khi nhiều địa phương cảnh báo liên tục tình hình phát hiện phân bón kém chất lượng. Nông dân là người chịu thiệt sau cùng và dư luận không khỏi hoài nghi các loại phân bón mới đang được quản lý và kiểm tra như thế nào? Một DN trong ngành hàng này nhận xét: Muốn đầu tư SX phân bón điều kiện cơ bản phải có NM, phòng thí nghiệm đủ tiêu chuẩn kiểm nghiệm nguyên liệu đầu vào, kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra; có cán bộ chuyên ngành nông học, hiểu biết về cây trồng, phân bón và kho tàng đủ điều kiện bảo quản phân bón. Tuy nhiên do quan niệm tạo điều kiện thông thoáng trong việc khuyến khích đầu tư và sự phối hợp chưa đồng bộ của các cơ quan chức năng, DN chỉ cần đăng ký kinh doanh, thậm chí có DN chưa đủ điều kiện SX, không máy trộn, thậm chí có nhà sản xuất” chỉ trộn bằng cuốc, xẻng vẫn vô tư SX NPK. Đây là nguyên nhân dẫn đến chất lượng không đảm bảo. Cần chấn chỉnh Hiện nay nước ta chủ động nguồn SX phân đạm Urê ổn định theo dự báo tổng sản lượng 2,6 triệu tấn/năm. Phân DAP cân đối SX 50% trong nhu cầu cả nước khoảng 650.000- 700.000 tấn/năm. Phân lân SX gần 1,7 triệu tấn, cân đối 80% nhu cầu và phân kali nhập khẩu khoảng 700.000 tấn/năm. Trong đó ĐBSCL nhu cầu phân đạm khoảng 800.000 tấn/năm; DAP 350.000 tấn/năm; NPK 650.000- 700.000 tấn/năm. Nguồn phân bón năm 2012 cung cấp dồi dào và dự báo giá cả tương đối ổn định. Ở một góc khác, phân hữu cơ theo xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững để giải quyết vấn đề chống bạc màu, cải thiện điều kiện dinh dưỡng của đất. Song, cho đến nay việc sử dụng phân hữu cơ vẫn còn bị bỏ ngỏ và chiếm chưa tới 10% so với phân hóa học. Trong khi đó một nhà SX phân bón NPK tại Cần Thơ cho rằng: Xu hướng dùng phân NPK một màu SX bằng công nghệ hơi nước đang tăng tỷ trọng tiêu dùng đạt 50/50 so với phân đơn NPK. Nhiều nông gia đại điền” tin tưởng và chọn dùng không ngại giá cả. Trong khi nông dân mua trả chậm, mua giá phân giá rẻ từ đại lý lại gặp hẹp cửa chọn lựa. Thị trường SX- KD phân bón NPK đang đứng trước bối cảnh biến động. Nông dân chấp nhận bỏ tiền ra mua phân bón, bằng cách nào để nông dân không chịu thiệt thòi vì gặp phải hàng kém chất lượng, các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước cần tăng cường biện pháp quản lý trong lĩnh vực SX- KD và kiểm tra chất lượng sản phẩm từ trong quá trình SX đến lưu thông trên thị trường. Từ đầu tháng 9 đến nay, phân bón đã 2 lần tăng giá với mức tăng bình quân từ 20.000-50.000 đồng/bao 50kg so với tháng trước. Trong đó, urê Phú Mỹ tăng từ 15.000-25.000 đồng/bao.Tương tự, phân DAP Trung Quốc tăng thêm khoảng 10.000-40.000 đồng/bao. Tuy nhiên, đó chỉ mới là giá bán phân tồn kho, phân mới nhập về tại các cửa hàng còn có giá cao hơn. Hiện phân NPK Đầu Trâu 20-20-15 Bình Điền và NPK 20-2015 Cò Bay ở mức 350.000-360.000 đồng/bao; phân NPK 16-16-8 Việt Nhật... Trong khi đó, thời điểm này, ĐBSCL đang trong mùa lũ, nhu cầu tiêu thụ phân bón gần như không có.Theo phân tích của các nhà bán lẻ, bên cạnh sự ảnh hưởng của thị trường thế giới, giá phân bón Việt Nam lên cao còn còn có yếu tố đầu cơ của một số nhà phân phối. Nhiều người buôn bán phân bón ở ĐBSCL đang phàn nàn về việc cung cấp phân bón có địa chỉ của Nhà máy đạm Phú Mỹ, khiến nhiều cửa hàng kinh doanh đành phải mua lại từ một vài nhà phân phối với giá cao hơn. Vì vậy, khả năng khan hàng và sốt giá phân bón cục bộ trong vụ đông xuân 2007-2008 là hoàn toàn có thể xảy ra.


II. chứng nhận hợp quy phân bón Với Cty CP đầu tư thương mại ôtô quốc tế và Cty CP truyền thông OXY do đơn vị mới được cấp giấy hợp quy cuối năm 2012 nên chưa tổ chức sản xuất và chưa có sản phẩm hợp quy cung cấp cho thị trường


.Bón phân cân đối là một giải pháp dinh dưỡng giúp cây trồng phát triển ổn định, sinh trưởng khỏe, không những giữ vững năng suất mà còn hạn chế được bệnh hại cây trồng, tiết kiệm chi phí SX và nâng cao hiệu quả cho người nông dân. CôngThương - Loại phân bón được nhập nhiều SA và Kali. Cụ thể, phân SA được nhập nhiều nhất, với 654,8 nghìn tấn, trị giá 127,2 triệu đô la, tăng 17,44% về lượng nhưng giảm 7,38% về trị giá so cùng kỳ. Phân Kali nhập 544 nghìn tấn, trị giá 247,1 triệu đô la. Phân Ure cũng được nhập 289,5 nghìn tấn, trị giá 101,5 triệu đô la, tăng 9,65% về lượng nhưng giảm 12,17% về trị giá so với cùng kỳ. Đối với phân NPK, tuy chỉ nhập 318,8 nghìn tấn, trị giá 153,4 triệu đô la, nhưng lại là loại phân bón nhập khẩu tăng mạnh cả về lượng và trị giá, tăng lần lượt 105,88% và tăng 98,66%. Phân DAP - được nhập về nhiều đứng thứ 3 sau phân Kali với 488 nghìn tấn, trị giá 256,1 triệu đô la, tăng 49,67% về lượng và tăng 36,27% về trị giá so cùng kỳ. Lượng phân DAP được nhập về nhiều trong khi nhà máy DAP Đình Vũ lại đang tồn kho sản phẩm được lý giải là do giá DAP Trung Quốc đang xuống thấp hơn so với giá DAP sản xuất trong nước. Nguyễn Duyên PHẢN HỒI. Bón phân cân đối là một giải pháp dinh dưỡng giúp cây trồng phát triển ổn định, sinh trưởng khỏe, không những giữ vững năng suất mà còn hạn chế được bệnh hại cây trồng, tiết kiệm chi phí SX và nâng cao hiệu quả cho người nông dân. Nói về hiệu quả của các lớp tập huấn và dịch vụ trả chậm phân bón, ông Nguyễn Tuấn Việt - Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Hưng Yên cho biết: Việc làm trên vừa giúp nâng cao kiến thức, hỗ trợ khó khăn về vốn, vừa tạo điều kiện cho nông dân có loại phân tốt bón cho cây trồng nhằm tăng năng suất, giảm chi phí. Do có ý nghĩa như vậy nên góp phần thúc đẩy phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi” và qua hoạt động các hội viên nông dân gắn kết với nhau hơn”. Nông dân Hưng Yên cũng như nông dân nhiều nơi sự hiểu biết về thâm canh cây trồng đã có tiến bộ nhưng có nhiều việc vẫn làm theo tập quán như cấy giống lúa đã bị thoái hóa; bón phân đơn- đạm, lân, kali; bón đạm muộn; hàng vụ phun thuốc BVTV đại trà: 2-3 lượt không phải là hiếm. Để khắc phục tình trạng trên, ông Nguyễn Xuân Vượng- Chủ tịch Hội Nông dân huyện Phù Cừ: Phân đa yếu tố NPK là một tiến bộ kỹ thuật về phân bón vì ngoài nó có đạm, lân, kali còn có các chất trung lượng và vi lượng, nghĩa là nó có đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng. Các chất dinh dưỡng trên lại được phối trộn theo yêu cầu của từng loại cây và từng giai đoạn sinh trưởng của cây. Dùng phân NPK còn giảm số lần bón tức là giảm công vì cây lúa chỉ cần bón 2 lần- bón thúc và bón lót. Qua lớp tập huấn học viên biết được điều này sẽ dần xóa bỏ được tập quán bón phân đơn và khắc phục được tình trạng bón phân sai kỹ thuật mà lâu nay đã mắc phải. Ngoài ra qua các lớp học nông dân còn biết được nhiều điều bổ ích khác nên họ tham gia tập huấn đông ngoài dự kiến”. Có một nguyên nhân các lớp tập huấn đông đúc và sôi nổi là các giảng viên chú ý liên hệ với thực tế bằng cách khơi gợi học viên tự nêu câu hỏi và tự trả lời. Ví dụ, tại sao gia đình tôi bón phân Văn Điển cho cây nhãn năm sau đào lên thấy vẫn còn phân lân? Đó là vì trong phân NPK Văn Điển có thành phần chủ yếu là lân. Lân Văn Điển không tan trong nước mà chỉ tan trong dung dịch axit do rễ cây tiết ra nên cây cần đến đâu phân hòa tan đến đó, phân còn để dành cho vụ sau. Hoặc câu hỏi chỉ dùng phân NPK Văn Điển thúc hoặc lót có được không? Dùng như vậy phải bón bổ xung thêm đạm, lân, kali. Tuy nhiên bón thêm các loại phân trên bao nhiêu sẽ khó tính nên tốt nhất là nên bón đồng bộ cả phân đa yếu tố NPK lót và thúc. Hoặc câu hỏi phân NPK Văn Điển rất tốt nhưng giá vẫn còn cao? Để biết các loại phân NPK đắt hay rẻ phải biết cách tính- lấy tổng số tiền chia cho tổng phần trăm các chất dinh dưỡng đạm, lân, kali, Ca, Mg, S… cộng lại, sẽ biết 1% giá bao nhiêu. Nếu biết tính toán như trên và xem hiệu quả nhiều mặt như tăng năng suất, giảm số lần phun thuốc, cải tạo đất thì phân Văn Điển giá cả rất hợp lý. Và qua thực tế bón phân ai có nhận xét tốt, xấu thế nào đều có quyền nêu ra để thảo luận. Ông Trần Văn Phan xã Đoàn Đào, huyện Phù Cừ nhận xét: Chúng tôi chuộng phân Văn Điển vì vụ xuân năm nay gặp dông tố, bón phân Văn Điển lúa cứng cây, chống đổ, chống chụi sâu bệnh tốt. Bón phân đơn hoặc phân NPK khác lúa đổ nhiều mất công buộc, giảm năng suất. Bón NPK Văn Điển cho nhãn lá to dày, màu xanh sáng, hạn chế sâu bệnh, hạn chế rụng quả, quả to mẫm, quả màu đẹp, ăn ngọt đậm, hương thơm”. Cũng như nhiều huyện khác Hội Nông dân huyện Ân Thi cũng nô nức đi dự lớp tập huấn hội trường của xã chật cứng người và không khí học tập cũng rất sôi nổi. Bà Nguyễn Thị Lạng - Chủ tịch Hội Nông dân huyện Ân Thi chia sẻ: Rất nhiều xã đăng ký xin lớp tập huấn nhưng kế hoạch số lớp hợp quy, phân bón npk có hạn nên chúng tôi phải tính toán hợp lý. Từ xã này mê phân Văn Điển lan sang xã khác, từ người này mê lan sang người khác”. Ngoài lãnh đạo Hội Nông dân từ tỉnh, huyện đến các xã, thôn quan tâm tới các lớp tập huấn, lãnh đạo đảng, chính quyền và các đoàn thể của các xã cũng rất đồng tình ủng hộ và hưởng ứng. Ông Vũ Văn Tứ- Phó Bí thư Đảng ủy xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi rất tâm đắc với công việc trên: Qua lớp tập huấn nông dân rất phấn khởi vì những kiến thức mới được bổ xung, đề nghị các hội viên tiếp tục tuyên truyền cho gia đình, cho chi hội và sẽ góp phần cho sản xuất nông nghiệp đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao”.


Trong 5 mô hình khoai tây sử dụng phân bón NPK-S Lâm Thao khép kín, xã Kinh Kệ và HTX Vân Hùng xã Tứ Xã, mỗi đơn vị có 2 mô hình, quy mô 3ha; xã Sơn Vy 1,5ha. Nông dân tham gia được hỗ trợ 100% phân bón NPK-S Lâm Thao. Công ty đã phối hợp với trạm khuyến nông, trạm BVTV huyện và cán bộ khuyến nông, cán bộ HTX Vân Hùng, Kinh Kệ tổ chức tập huấn, chuyển giao quy trình kỹ thuật sử dụng phân bón NPK Lâm Thao khép kín cho cây khoai tây vụ đông kết hợp phương pháp làm đất tối thiểu cho toàn bộ 50 hộ tham gia mô hình. Ruộng khoai tây bón phân NPK - S.Trong suốt thời gian sinh trưởng phát triển của cây khoai tây, cán bộ Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã cùng các cán bộ khuyến nông bám sát đồng ruộng, hướng dẫn bà con nông dân chăm sóc và bón phân NPK Lâm Thao đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo yêu cầu dinh dưỡng về thành phần và đủ lượng, cụ thể: Bón lót với lượng phân chuồng 500kg/sào, NPK-S5.10.3-8: 25kg/sào và bón thúc với lượng NPK-S12.5.10-14: 40kg/sào chia làm 2 lần: Lần 1 khi cây cao 20cm sau trồng 20-25 ngày và lần 2 cách lần 1 là 20 ngày. Đối chứng với tập quán bón phân đơn ở địa phương. Sau gần 3 tháng tập trung chăm sóc, mô hình khoai tây đã bước vào giai đoạn thu hoạch. Có mặt tại thời điểm thu hoạch khoai tây, chúng tôi nhận thấy bà con nông dân xã Kinh Kệ và HTX Vân Hùng miệt mài thu hoạch khoai tây, vận chuyển về nhà, gương mặt họ ánh lên sự phấn khởi với kết quả của một vụ mùa thắng lợi. Ông Khổng Văn Phú ở Khu 5 Vân Hùng phấn khởi cho biết: Lần đầu tiên gia đình tôi trồng khoai tây sử dụng phân NPK-S Lâm Thao trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển. Tôi thấy trồng khoai tây vụ đông dễ làm, ít tốn công, đặc biệt bón phân NPK-S của Lâm Thao cây khoai tây sinh trưởng phát triển tốt, củ to hơn, khả năng cho năng suất cao hơn so với ruộng khoai tây tôi bón phân đơn. Vụ sau tôi sẽ sử dụng phân NPK-S Lâm Thao để bón cho khoai tây vụ đông chứ không sử dụng phân đơn nữa.Ông Nguyễn Văn Chung - Chủ nhiệm HTX dịch vụ Nông nghiệp Kinh Kệ cho biết: Vụ này, toàn HTX có 60 hộ tham gia trồng khoai tây quy mô 5ha, trong đó có 40 hộ tham gia mô hình được Công ty CP Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao hỗ trợ 100% phân bón NPK-S và tập huấn kỹ thuật chăm sóc. Mặc dù vụ đông năm nay, thời tiết không thuận lợi cho cây khoai tây phát triển do nhiệt độ cao, thời tiết khô hanh, song do được chăm sóc, bón phân NPK-S Lâm Thao khép kín, năng suất khoai tại các hộ đều đạt 540kg/sào trở lên, trừ chi phí thu lãi trung bình 4 triệu đồng/sào, cá biệt có hộ thu lãi 4,5 triệu đồng/sào, người dân rất phấn khởi.Qua mô hình trồng khoai tây vụ đông năm 2013 tại huyện Lâm Thao, sử dụng phân bón NPK-S Lâm Thao cho thấy: Phương thức thâm canh khoai tây đông bằng phương pháp làm đất tối thiểu và sử dụng phân bón NPK-S Lâm Thao khép kín đang đem lại những hiệu quả hop quy, phan bon npk tích cực: Cây khoai tây phát triển tốt, hầu như không bị sâu bệnh, củ to đồng đều, ít có củ bi, năng suất cao hơn khoai tây trồng theo phương pháp truyền thống và bón phân đơn từ 15-20%. KS Phạm Đức Thành. TCty Phân bón & hóa chất dầu khí PVFCCo, Cty Cổ phần Phân bón & hóa chất Đông Nam bộ PVFCCo SE phối hợp với Trung tâm KN-KN tỉnh Bình Phước tổ chức hội thảo Tổng kết mô hình trình diễn phân bón NPK 16-16-8+13S Phú Mỹ trên cây tiêu” tại huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. So với đối chứng, vườn tiêu sử dụng NPK Phú Mỹ có bản lá dày, đọt non ra đều, tập trung, hoa ra đồng loạt, trái đóng đông đặc, to bóng, tăng năng suất trên 6%, lợi nhuận thêm 60 triệu đồng/ha so với cách canh tác theo phương pháp truyền thống giá tiêu tính theo thời điểm thu hoạch. Báo cáo của Cục này còn nhận định, đã có những tư thương đến đặt hàng, hướng dẫn các hộ dân cách chế biến chè bẩn. Sự việc bắt đầu xuất hiện từ tháng 6 và đến tháng 7/2011 thì bùng phát mạnh. Hiện Tuyên Quang đã lập biên bản, tạm giữ hơn 2 tấn chè của một số thương lái nghi là chè bẩn đưa đi xét nghiệm. Tỉnh Tuyên Quang hiện có 7.901ha chè, 3 doanh nghiệp cổ phẩn, 3 hợp tác xã, 8 công ty TNHH sản xuất kinh doanh chè. Q.Đán. Theo đó, mặt hàng phân bón NPK có hoặc không bổ sung trung vi lượng ở dạng viên hoặc các dạng tương tự, hoặc đóng gói trong bao bì với trọng lượng cả bì không quá 10kg, thuộc phân nhóm 3105.10.00, mã số 3105.10.00.20, có thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi là 6%; mặt hàng phân bón NPK có hoặc không bổ sung trung vi lượng loại khác thuộc mã số 3105.20.00.00, có thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi là 6%. Tổng cục Hải quan đề nghị Cục Hải quan các tỉnh, thành phố căn cứ vào thực tế hàng nhập khẩu để phân loại theo quy định, đồng thời tiến hành rà soát việc phân loại các mặt hàng trên. Trường hợp đã phân loại mặt hàng trên chưa đúng quy định nếu có sai sót thì tiến hành thu đúng, thu đủ số thuế theo quy định.. Năm 1997 Cty Apatit Việt Nam đưa dây chuyền SX phân bón tổng hợp NPK Hoàng Liên, với 5 loại phân: NPK 5-10-3, NPK 8-6-4, NPK 10-5-5, NPK 12-2-8, NPK 12-5-10. Do lợi thế đưa vào SX là nguồn nguyên liệu Apatit đã qua tuyển tốt nhất, kết hợp với phân bùn Đông Hà được tích tụ hàng triệu năm, tạo cho NPK Hoàng Liên có chất lượng hơn hẳn các loại phân bón cùng loại. Đóng bao NPK Hoàng Liên. Vì sinh sau đẻ muộn, nên NPK Hoàng Liên đã lấy chất lượng đặt lên hàng đầu. Không chỉ phục vụ các tỉnh miền núi phía Bắc, NPK Hoàng Liên đã có mặt ở nhiều tỉnh: Thái Bình, Nam Định, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lai Châu, Hà Giang, Sơn La… Nông dân sử dụng NPK Hoàng Liên năng suất cây trồng đều hơn hẳn các loại phân khác. Bộ NN-PTNT có QĐ 123-1998/QĐ-BNN-KHCN cho phép Cty Apatit Việt Nam SX phân bón NPK Hoàng Liên lưu hành toàn quốc. Mục tiêu ban đầu của NPK Hoàng Liên là phục vụ bà con nông dân các dân tộc khu vực miền núi phía Bắc, do đường đất xa xôi các Cty lớn không chú ý tới, nhất là việc vận chuyển phân bón gặp rất nhiều khó khăn, giá cả đắt đỏ, vì thế người dân không thể đầu tư vào SX. Những năm đầu tiên, sản lượng NPK Hoàng Liên chỉ đạt 8.000 -15.000 tấn/năm. Ưu thế của NPK Hoàng Liên tan nhanh, phù hợp canh tác trên đất dốc quanh năm khô hạn, lượng mưa ít. Do chất phụ gia là quặng tuyển Apatit, hàm lượng P205 đều đạt từ 32 - 33% và phân bùn nên đã bổ sung cho đất một lượng mùn đáng kể. Khi sử dụng NPK Hoàng Liên lượng mùn nhiều hơn, đất trở nên tơi xốp, cây khỏe, lá xanh năng suất cao. Vì thế, nông dân sử dụng ngày một nhiều hơn, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc bón cho những loại cây trồng trên đất dốc nhưu chè, mía, sắn, ngô, đậu, lạc, nhãn, vải... Đến nay sản lượng NPK Hoàng Liên đạt 30.000 - 33.000 tấn/năm. Diện tích chè bón NPK Hoàng Liên năng suất 15 tấn/ha. Những Cty sử dụng NPK Hoàng Liên đã nhận xét: Cây phát triển khỏe ngay từ ban đầu, tạo tiền đề cho việc chống chịu sâu bệnh để tạo ra năng suất cao”. Bà Hoàng Thị Trâm, xã Tân Thịnh Văn Chấn, Yên Bái thành thật: Gia đình tôi có hơn 1 ha chè, trước đây dùng NPK của một số Cty, hết vụ chè mà vẫn thấy nhiều hạt phân chưa tan, thử bóp thì thấy phân cứng như đá. Tìm hiểu ra, thì loại phân đó chỉ phù hợp bón cho lúa, còn bón cho chè và những cây trồng cạn thì lâu tan. Từ đó đến nay đã hơn chục năm rồi gia đình tôi chỉ sử dụng NPK Hoàng Liên, bao màu vàng. Loại phân này tan trong điều kiện đất ẩm, bón trên đồi thì rất tốt...”. Ông Ngô Phạm Khái, GĐ Xí nghiệp Phân bón & hóa chất: Xí nghiệp Phân bón & hóa chất được Cty Apatit Việt Nam giao nhiệm vụ SX 5 loại phân bón NPK Hoàng Liên, chúng tôi đã sử dụng nguồn nguyên liệu tốt nhất, máy móc hiện đại và công nghệ tiên tiến để SX. Sau khi sử dụng loại phân bón này, nông dân đã gọi phân bón NPK Hoàng Liên là phân ma”, nay người ta lại gọi là hiệp sĩ” chinh phục đất dốc. Chúng tôi đã xác định đi với nông dân trọn đời, nên luôn phải giữ chữ tín đối với họ... Còn ông Nguyễn Trọng Luyến vua cam” ở thị trấn Nông trường Trần Phú Văn Chấn, Yên Bái cho biết: Gia đình tôi có 4 ha cam, mỗi năm thu hoạch từ 130 - 140 tấn quả, ngoài phân hữu cơ gia đình tôi bón một lượng phân vô cơ từ 8 - 10 tấn/năm, chủ yếu là NPK Hoàng Liên. Bà con ở đây đều sử dụng loại phân này, đã cho quả mọng, màu sắc đẹp bán đắt hàng. Có thể nói NPK Hoàng Liên giống như chàng hiệp sĩ” áo vàng đã chinh phục vùng đất dốc nơi này...”. Nhiều người còn gọi là phân ma”, vì bón loại phân này năng suất tăng vọt bất ngờ. Với chất lượng sản phẩm không chỉ được nông dân chấp nhận, tháng 5/2004 NPK Hoàng Liên đã được Bộ Công thương trao Huy chương vàng và Giấy chứng nhận Hàng Việt Nam chất lượng cao”, năm 2006 Bộ NN-PTNT trao Cúp vàng cho các sản phẩm NPK Hoàng Liên. Đến nay, ngoài hàng chục ngàn hộ nông dân của các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang, Bắc Giang... Các Cty chè có diện tích lớn của khu vực miền núi phía Bắc: Nghĩa Lộ, Trần Phú, Liên Sơn, Mộc Châu... Đều sử dụng NPK Hoàng Liên với số lượng hàng ngàn tấn mỗi năm. Gần 7 tháng đầu năm 2013, số lượng NPK Hoàng Liên đã tiêu thụ trên 21.000 tấn, SX đến đâu tiêu thụ hết đến đó, kho phân bón của xí nghiệp luôn trong tình trạng cháy hàng. Mặc dù giá phân bón và nguyên liệu sản xuất phân bón trên thị trường thế giới tăng, nhất là phân DAP và phân SA; hợp quy, phân bón npk giá Kali bắt đầu tăng trở lại ở mức 410 USD/tấn nhưng giá phân bón trong nước chỉ tăng nhẹ do nguồn cung dồi dào. Các doanh nghiệp cũng rất hạn chế nhập khẩu phân bón để theo dõi biến động của thị trường. Hiện giá phân urê Hà Bắc khoảng 6.650 đồng đến 6.750 đồng/kg, urê Phú Mỹ 6.900 đồng/kg; phân NPK ở mức 3.050 đồng/kg; supe lân Lâm Thao 2.060 đồng/kg. Tình hình sản xuất phân bón hai tháng qua vẫn tiếp tục giảm. Phân urê chỉ đạt hơn 132.000 tấn, giảm 20% do sản lượng của Nhà máy Phân đạm Hóa chất Hà Bắc giảm tới 61,4% vì sự cố phải dừng máy để sửa chữa từ giữa tháng hai; phân NPK đạt 166.000 tấn, giảm 12,1%; phân lân cũng chỉ đạt 213.000 tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm ngoái./. Văn Xuyên Vietnam+. Vào khoảng cuối tháng 6/2012, có một số công nhân ở đội 7, thuộc Công ty cà phê 719, ở xã Ea Kly, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk và một số cơ quan thông tin đại chúng đã đưa tin sai về phân NPK Philip: 16-16-8-13S nghi kém chất lượng do Công ty kinh doanh tổng hợp Vinacafe Quy Nhơn thuộc Tổng Công ty cà phê Việt Nam nhập và độc quyền phân phối ở Việt Nam. Trước sự việc trên, ngày 2/7, Tổng Công ty cà phê Việt Nam đã thành lập Hội đồng kiểm tra, xác định chất lượng phân bón NPK Philip: 16-16-8-13S mà Công ty cà phê 719 đã cung cấp cho bà con nông dân trong thời gian qua. Đồng thời tiến hành lập biên bản lấy 03 mẫu phân NPK Philip, NPK: 16-16-8-13S tại 03 địa điểm. Mẫu số K719-01 lấy tại nhà ông Thọ, mẫu số K719-02 lấy tại đội 3 và mẫu số K719-03 lấy tại trụ sở Công ty cà phê 719 để gửi về Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 để phân tích. Kết quả thử nghiệm ở Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3. Kết quả thử nghiệm do Phó giám đốc Trần Thị Mỹ Hiền khảng định, các thành phần phân NPK Philip, NPK: 16-16-8-13S, ký hiệu K719, K719-01, K719-02, K719-03 đều vượt so với đăng ký. Đó là điều khảng định phân bón NPK Philip, NPK: 16-16-8-13S là phân bón thật có chất lượng cao. Tiếp đó, ngày 30/8, lãnh đạo Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, phòng Nông nghiệp huyện Krông Pắk, xã Ea Kly, Tổng Công ty cà phê Việt Nam, Công ty cà phê 719 và Công ty kinh doanh tổng hợp Vinacafe Quy Nhơn đã có buổi làm việc và đi thực tế những cánh đồng đã bón phân NPK Philip: 16-16-8-13S. Nhìn những cánh đồng lúa chín vàng chuẩn bị đến thời thu hoạch, sẽ cho một vụ bội thu. Khi trao đổi với chúng tôi, Ban lãnh đạo ở Công ty cà phê 719 cho biết: Từ năm 2007 cho đến nay chúng tôi vẫn dùng phân bón do Công ty kinh doanh tổng hợp Vinacafe Quy Nhơn cung cấp phân bón rất tốt cho cây lúa, cây cà phê. Với kinh nghiệm sản xuất lúa ở Công ty, chúng tôi nhận thấy bón phân NPK Philip, NPK:16-16-8-13S cho cây lúa nhanh bén rễ hồi xanh, bộ rễ ăn sâu và có nhiều rễ trắng, cây lúa cứng. Nhờ đó mà cây lúa sinh trưởng phát triển tốt, đẻ nhánh sớm, lúa đẻ khỏe, trỗ bông và chín tập trung, chín đều với một màu vàng đẹp. Nhìn bộ lá rất ưng mắt, có thể do hàm lượng dinh dưỡng trong phân bón hợp lý nên màu lá xanh bền. Lá lúa dầy, cứng, bản lá to, đứng lá, số nhánh hữu hiệu tăng. Sử dụng phân bón NPK Philip, NPK: 16-16-8-13S năng suất lúa tăng lên rõ rệt. Ông Trịnh Tiến Bộ - Trưởng phòng trồng trọt rất đồng tình với cách làm của Tổng Công ty Cà phê Việt Nam là làm kịp thời để bảo vệ cho người tiêu dùng. Ông Đoàn Doãn Toản – Phó phòng Nông nghiệp huyện Krông Pắk yêu cầu Công ty Kinh doanh Tổng hợp Vinacafe Quy Nhơn tiếp tục cung ứng phân bón cho bà con nông dân trong huyện. Có 2 loại tỏi: Tỏi ta và tỏi tây. Tỏi ta Allium sativum L. Là cây trồng lấy củ làm gia vị và làm thuốc, họ hành tỏi Laliaceae spp.. Nguồn gốc ở miền Tây châu Á, được trồng cách đây 2.000 năm. Các dạng hoang dại hiện còn tìm thấy ở Apganixtan, Iran, nơi có nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các mùa chênh lệch nhau rõ rệt. 2. Giống tỏi Các giống tỏi địa phương có tỏi gié, tỏi trâu, trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Các tỉnh duyên hải miền Trung có trồng giống tỏi nhập nội, củ to gọi là tỏi tây nhóm Alliumporrum L.. Ở các vùng tỏi chuyên canh như Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang… nông dân thường trồng 2 giống tỏi nhập khẩu từ Trung Quốc là tỏi trắng và tỏi tía. Tỏi trắng có đặc điểm lá xanh đậm, to bản, củ to. Đường kính củ đạt tới 4-4,5 cm. Khi thu hoạch vỏ lụa củ màu trắng. Giống tỏi này có khả năng bảo quản kém, hay bị óp. Tỏi tía, lá dày, cứng, màu lá xanh nhạt. Củ chắc và cay hơn tỏi trắng. Dọc thân gần củ có màu tía. Khi thu hoạch có màu trắng ngà. Mỗi củ có 10 - 11 nhánh. Đường kính củ 3,5 - 4 cm. Giống này được trồng nhiều hơn tỏi trắng. Năng suất của 2 giống tỏi trên đạt trung bình 8-10 tấn củ khô/ha 300 - 400 kg/sào Bắc bộ. 3. Kỹ thuật trồng 3.1. Thời vụ Ở đồng bằng sông Hồng, tỏi nằm trong công thức luân canh giữa 2 vụ lúa nên thời vụ thích hợp để trồng là 25/9 - 5/10, thu hoạch 30/1 - 5/2 vẫn đảm bảo đủ thời gia sinh trưởng và không ảnh hưởng đến thời vụ của lúa. Tuy nhiên, vì không có thời gian cho đất nghỉ nên việc làm đất phải tính toán từ chọn ruộng trồng đến chủ động chế độ nước cho lúa. Nếu để tỏi giống với thời gian sinh trưởng trên 140 ngày, tỏi phải trồng trên đất bãi ven sông, không cấy lúa xuân. Ở khu vực miền Trung, tỏi trồng vào tháng 9 - 10, thu hoạch củ vào tháng 1 - 2. 3.2. Làm đất, trồng củ Đất trồng tỏi chọn chân vàn cao, dễ thoát nước sau khi gặt xong lúa mùa sớm, làm đất kỹ và lên luống ngay để tránh gặp mưa muộn. Luống rộng 1,2 - 1,5 m, rãnh 0,3 m. Sau khi lên luống, rạch hàng bón phân. Mỗi luống trồng 5 - 6 hàng, khoảng cách hàng 20 cm. Đảo Lý Sơn Quảng Ngãi là vùng trồng tỏi nổi tiếng của nước ta, do luân canh nhiều vụ/năm nên đất nhanh hết dinh dưỡng, phải thay đất mới. Muốn SX, nông dân phải bồi lên trên 1 lớp đất thịt dày khoảng 2 cm. Sau khi đầm chặt lớp đất thịt, tiếp tục rải lên 1 lớp phân chuồng, sau đó phả lên 1 lớp cát được lấy từ biển cũng dày khoảng 2 cm rồi mới trồng tỏi. Lớp đất thịt có nhiệm vụ nuôi bộ rễ và bổ sung cho cây tỏi một số vi lượng. Còn lớp cát đá vôi được lấy từ biển trộn lẫn san hô vỡ vụn ở trên mặt tạo độ xốp giúp cho củ tỏi phát triển, nở to. Tỏi giống chọn những nhánh từ củ chắc, khối lượng củ 12 - 15 gr, có 10 - 12 nhánh. Mỗi ha cần 1 tấn tỏi giống 37 kg/sào Bắc bộ, khoảng cách trồng mỗi nhánh 8 -10 cm, ấn sâu xuống đất 2/3 nhánh tỏi, phủ đất nhỏ lên trên. Sau khi trồng, dùng rơm rạ băm nhỏ phủ một lớp dày 5 cm để giữ ẩm và hạn chế cỏ mọc 3.3. Bón phân NPK-S Lâm Thao Tính theo một sào Bắc bộ là 360 m2 + Bón lót: Phân chuồng 700 - 800 kg nếu đất chua bón thêm 20 kg vôi bột. NPK-S 5.10.3-8 bón 24 - 26 kg + Bón thúc 1 sau trồng 14 - 21 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 7 - 8 kg. + Bón thúc 2 sau đợt 1 khoảng 20 - 25 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 7 - 8 kg. + Bón thúc 3 sau đợt 2 khoảng 15 - 20 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 7-8 kg. Tính cho 1 ha: + Bón lót, rải đều theo hàng và trộn kỹ: Phân chuồng 15.000 -20.000 kg nếu đất chua bón thêm 500 kg vôi bột. NPK-S 5.10.3-8 bón 660 - 720 kg. + Bón thúc 1 sau trồng 14-21 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 190-220 kg. + Bón thúc 2 sau đợt 1 khoảng 20 - 25 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 190 - 220 kg. + Bón thúc 3 sau đợt 2 khoảng 15 - 20 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 190 - 220 kg. 3.4. Chăm sóc Tưới nước đều đến khi cây mọc và khi có 3 - 4 lá thật thì tưới nước rành, thấm lên dần. Cả thời gian sinh trưởng tưới 4 - 5 lần. Trước mỗi lần tưới rãnh nên kết hợp bón thúc phân NPK-S Lâm Thao 12.5.10-8. Cây tỏi thường bị các bệnh như: bệnh sương mai Peronospora destructor Unger, bệnh than đen Urocystis cepula Porost. Cần sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được cho phép đối với từng bệnh. Củ thương phẩm thu hoạch sau khi trồng 125 - 130 ngày lúc lá đã già, gần khô. Chúc bà con nông dân đạt nhiều thành công trong vụ trồng tỏi sắp tới khi sử dụng phân NPK-S Lâm Thao.


III. chứng nhận ISO 9001 Các đội QLTT còn phát hiện hàng loạt cửa hàng tự in tem hợp quy để qua mặt các cơ quan chức năng


Qua sử dụng các loại phân bón trên, vườn cà phê của anh được cải thiện rõ rệt, sản lượng và năng suất tăng gấp nhiều lần so với những năm trước. Anh Hoàng cho biết: Sau khi sử dụng phân bón của Cty Minh Phát tôi thấy cành cà phê vươn xa hơn, lá dày, hoa nở trên 90%. Niên vụ vừa qua thu được 17 tấn cà phê nhân, trung bình 3,5 tấn/ha. Vụ này vườn lại ra hoa, đậu quả đồng loạt dự kiến sẽ đạt trên 5 tấn/ha. Còn ông Lê Thể Thao, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân thôn 2, xã Ea Kao, TP Buôn Ma Thuột định nhổ cà phê để tái canh lại thì gặp cán bộ Cty Minh Phát mời dự hội thảo tư vấn về loại phân bón NPK Phú Hào và Sinh thái Việt Mỹ, và ông đã mua về bón. Ông Thao cho biết: Nhà tôi có 1 ha cà phê khoảng 20 năm tuổi, do đất xấu nên cây nhanh già cỗi, trái nhỏ, nhân như hạt đậu xanh. Khi xịt phân sinh thái đợt 1 hoa bung nở trên 90%, tỷ lệ đậu trái tối đa, cành bắt đầu vươn dài, lá xanh lại… Xịt và tưới lần 2 cây được cải thiện rõ rệt, lá xanh, ngọn bung… Xịt lần 3 thì trái phổng to và bóng hẳn. Sản phẩm phân bón Sinh học Việt Mỹ góp phần trẻ hóa” vườn cà phê ở Tây Nguyên Nếu như năm trước chưa dùng NPK Phú Hào và Sinh thái Việt Mỹ may ra 1 ha thu được khoảng trên 2 tấn nhân. Năm nay sản lượng ước tính sẽ đạt trên 4 tấn, chắc chắn năm tới sẽ tăng hơn vì năm nay cây mới phục hồi”. Ông Phạm Viết Quyền, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân thôn 4, xã Ea Kao có 4 sào tiêu 13 năm tuổi. Do đất xấu, tiêu già cỗi và bị bệnh, sản lượng thu chẳng được bao nhiêu. Nhờ làm công tác hội, ông được tiếp cận với sản phẩm NPK Phú Hào và Sinh thái Việt Mỹ nên đã mua về bón. Vườn tiêu của tôi bị bệnh nặng, mỗi năm may ra vớt vát được khoảng 4 tạ. Sau khi mua phân bón về xịt 2 lần thì cây phục hồi nhanh chóng, lá xanh hẳn, bông ra nhiều… Phân bón của Cty Minh Phát không chỉ giúp cây trồng tăng năng suất, mà còn giảm sâu bệnh, giảm chi phí. Năm nay ước tính thu về từ 1 - 1,2 tấn tiêu khô”, ông Quyền khẳng định. Ông Đậu Chí Thanh, Giám đốc Cty Minh Phát cho biết: Lúc đầu do nông dân chưa hiểu nên họ sử dụng phân bón của Cty còn ít, sau khi Cty tổ chức thí điểm các mô hình ở Buôn Ma Thuột, Buôn Đôn, Krông Buk Đăk Lăk, Cư Jút Đăk Nông… số hộ xài đã tăng lên. Nếu bón với số lượng lớn, từ 10 - 100 ha thì tiết kiệm được 5 - 7 triệu đ/ha, lợi nhuận tăng từ 25 - 35 triệu đ/ha. Sản phẩm NPK Phú Hào và Sinh thái Việt Mỹ có thể sử dụng chung với các loại thuốc BVTV giúp nông dân tiết kiệm thời gian, công sức. Vừa qua, tại Hà Nội, sản phẩm phân bón Sinh thái Việt Mỹ là một trong hơn 60 thương hiệu được BTC Chương trình Truyền thông, quảng bá thương hiệu vững mạnh - vượt qua suy thoái - hội nhập toàn cầu do Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam, Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại - đầu tư công nghệ phối hợp tổ chức trao Cúp chứng nhận Thương hiệu nổi tiếng thế kỷ 21 - Thương hiệu vượt thời gian”. Tổng Giám đốc Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí PVFCCo Cao Hoài Dương cho biết, quý III năm nay Tổng Công ty sẽ khởi công xây dựng nhà máy sản xuất NPK chất lượng cao để thay thế hàng nhập khẩu. Theo ông Dương, hiện công suất NPK của cả nước cung vượt cầu hơn 4 triệu tấn, tuy nhiên phần lớn phân NPK được các cơ sở tư nhân sản xuất” pha trộn thô sơ, không đảm bảo chất lượng, đặc biệt là dòng NPK chất lượng cao dùng chăm bón các loại cây trồng đặc sản vẫn phải nhập khẩu mỗi năm 400.000 tấn. Do vậy việc đầu tư một nhà máy với công nghệ cao của Tây Ban Nha sẽ được PVFCCo sớm triển khai và vận hành vào năm 2016. Cũng theo lãnh đạo Tổng Công ty, để tạo thị trường cho nhà máy, Đạm Phú Mỹ đã tung ra thị trường dòng sản phẩm phân tổng hợp NPK được hợp tác gia công tại Nga. Năm 2013, PVFCCo đạt lợi nhuận 2.500 tỷ đồng, vượt 19% kế hoạch và về đích trước 3 tháng. Sản lượng sản xuất cũng đạt 821.000 tấn, về đích trước 20 ngày. Cũng theo doanh nghiệp này, sự kiện đáng lưu ý trong năm 2013 đối với Đạm Phú Mỹ là việc bảo dưỡng tổng thể Nhà máy Đạm Phú Mỹ tháng 9/2013 và việc Nhà máy Đạm Phú Mỹ cán mốc 7 triệu tấn ngày 20/12/2013. Linh Đan. Mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất phân bón NPK một hạt được Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp TTKC Lâm Đồng và Công ty CP Bình Điền Lâm Đồng phối hợp triển khai không những đem lại hiệu quả kinh tế mà còn giúp DN phát triển bền vững, thân thiện với môi trường. CôngThương - Hiệu quả kinh tế Theo ông Cao Xuân Khản - Giám đốc TTKC Lâm Đồng, mô hình này có tổng vốn đầu tư 19,16 tỷ đồng, trong đó, nguồn vốn khuyến công quốc gia hỗ trợ 250 triệu đồng. Mô hình được triển khai từ đầu quý I, hoàn thành vào quý III/2012. Triển khai đề án, công ty đã đầu tư và hợp quy, phân bón npk lắp đặt mới dây chuyền sản xuất phân NPK một hạt với công suất 50.000 tấn/năm, bao gồm nhiều thiết bị như: Máy sấy, máy tạo hơi nước thùng quay, máy làm bóng sản phẩm, máy trộn nguyên liệu, hệ thống định lượng trái khế, máy phân loại, máy nghiền hạt to, bunke sản phẩm và hồi lưu... Hiện tại, mô hình đã được đưa vào vận hành, dự kiến sau khi hoạt động ổn định sẽ cung cấp cho thị trường 50.000 tấn/năm. Với mức giá 8.800 đồng/kg như hiện nay, doanh thu của công ty sẽ đạt 440 tỷ đồng, tỷ suất lợi nhuận tăng trên 43%/năm và trên 100 lao động địa phương sẽ được tạo việc làm. Lợi ích về môi trường Ngoài hiệu quả về kinh tế, mô hình sản xuất phân NPK một hạt còn đem lại những lợi ích vượt trội về môi trường, tạo nền tảng căn bản cho DN hướng tới phát triển bền vững. Khác với nhiều loại phân bón dạng trộn, phân bón đa thành phần NPK dạng hạt có thể kết hợp các chất vi dinh dưỡng và các tác nhân gây ức chế nitrat. Các chất vi dinh dưỡng dạng bột được bọc phủ và phối trộn trong phân NPK dạng hạt làm giảm khả năng kết tụ - trong khi chính hiện tượng kết tụ này là nhược điểm cơ bản của phân NPK dạng trộn. Theo đó, sản phẩm NPK dạng hạt có nhiều ưu điểm như: Tăng sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh, tăng năng suất, chất lượng nông sản và cải thiện độ phì của đất. Nhu cầu sử dụng phân NPK dạng hạt thay cho phân dạng trộn của người dân vùng Tây Nguyên đang có xu hướng gia tăng. Với diện tích cây trồng lớn, đặc biệt là những loại cây công nghiệp như cà phê, điều…, nhu cầu sử dụng phân NPK hàng năm của cả vùng là 400.000 tấn, riêng Lâm Đồng là 130.000 tấn. Với những thiết bị công nghệ cao, dây chuyền sản xuất mới đã giúp DN giảm thiểu tối đa tiếng ồn, giảm thiểu phát tán bụi vào không khí, hạn chế sự bay hơi gây mùi của nguyên liệu. Bên cạnh đó, DN còn thực hiện đồng bộ hóa nhiều thiết bị nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường như: Cyclone lắng bụi chùm sáu, quạt hút bụi máy sấy nóng, ống khói máy sấy lạnh, đường ống công nghệ cho dây chuyền... Trên cơ sở đó đảm bảo an toàn vệ sinh lao động trong sản xuất và khắc phục nhược điểm gây ô nhiễm môi trường. Với công suất 50.000 tấn/năm, dây chuyền sản xuất phân NPK dạng hạt của Công ty CP Bình Điền Lâm Đồng chỉ giải quyết được khoảng 1/3 nhu cầu của tỉnh. Bởi vậy, tiềm năng thị trường của phân NPK dạng hạt còn rất lớn. Mô hình bón phân NPK Ninh Bình trên cây lúa ở Nho Quan, Ninh Bình cho năng suất, chất lượng cao. Năng suất ước đạt hơn 3 tạ/sào Đi thăm cánh đồng lúa đang thời kỳ phơi mầu, ruộng nào lúa cũng tốt, cây cao, bông dài, hầu như không có sâu bệnh, ông Phạm Ngọc Vinh – Chủ nhiệm HTX Đông Cường xã Khánh Cường, Yên Khánh, Ninh Bình phấn khởi cho biết: Chúng tôi nhận khảo nghiệm phân NPK của Công ty CP Phân lân Ninh Bình với diện tích trên 3ha. Đến thời điểm hiện tại chỉ còn 2 tuần là lúa sẽ được thu hoạch nhưng theo kinh nghiệm của tôi, lúa tốt, hầu như không có sâu bệnh, bông lại dài như thế này thì chắc chắn phải đạt hơn 3 tạ/sào”. Cũng theo ông Vinh, mô hình của HTX hiện có 9 hộ tham gia, trong đó có hộ cấy tới hơn 1 mẫu ruộng. Là một trong những hộ có diện tích lúa lớn tham gia mô hình khảo nghiệm này, ông Nguyễn Văn Phiên cho biết: Gia đình tôi cấy hơn 1 mẫu, tham gia mô hình này lượng phân bón theo quy trình bón lót 25kg/sào NPK 5.12.3; bón thúc 10kg/sào NPKS 17.5.16.1 chi phí không cao hơn so với bón phân đơn, nhưng năng xuất lúa và hiệu quả lại cao hơn nhiều so với bón phân đơn”. Theo bà Phạm Thị Thúy Ngân – Chủ tịch Hội Nông dân huyện Nho Quan, được Công ty CP Phân lân Ninh Bình hỗ trợ phân bón hỗn hợp NPK Ninh Bình để bón khảo nghiệm trên đồng đất xã Lạc Vân, Hội ND đã kết hợp bón trên giống lúa HT9. Theo quy trình, trước khi cấy, bón lót 400kg phân chuồng/sào, phân NPK Ninh Bình 10.10.5 là 25kg/sào nhưng hầu hết các hộ đều không bón phân chuồng. Sau khi cấy được 7-10 ngày khi lúa bén rễ hồi xanh bón 12,5kg/sào phân NPKS 17.5.16.1 chuyên dùng bón thúc cho cây lúa của Công ty CP Phân lân Ninh Bình sản xuất kết hợp với làm cỏ sục bùn. Kết quả cho thấy, mặc dù không bón phân chuồng với lúa HT9 được bón phân NPK Ninh Bình, lúa cứng cây, phát triển tốt nên phần nào đã tránh được sâu bệnh. Kể cả diện tích cấy tập trung cũng như ở các cánh đồng khác, lúa HT9 sử dụng phân NPK Ninh Bình đều phát triển tốt. Khi lúa chín, hạt chắc, màu hạt vàng, sáng, và tỷ lệ hạt lép hầu như rất ít, lúa ít sâu bệnh, năng suất đạt bình quân 2 tạ/sào, với giá bán của giống lúa này trung bình 10.000 đồng/kg, trừ hết chi phí, người dân thu lợi nhuận khoảng gần 1,7 triệu đồng/sào. Kiểm chứng ngay trên đồng ruộng Những năm gần đây ngày càng có nhiều loại phân bón mới ra đời. Bên cạnh những loại phân bón có thương hiệu, chất lượng cao, ít chảy nước… hiện vẫn còn nhiều phân bón giả, phân bón kém chất lượng gây thiệt hại lớn cho nông dân khi mua phải và sử dụng. Để đánh giá được chính xác hiệu quả của các loại phân NPK chuyên dùng mới, không còn cách nào khác tốt hơn là kiểm chứng ngay trên đồng ruộng sản xuất, từ đó khuyến cáo bà con xã viên áp dụng làm theo. Đặc biệt, với việc kết hợp cùng Công ty CP Phân lân Ninh Bình triển khai cung ứng phân bón trực tiếp cho người dân chúng tôi sẽ đảm bảo được chất lượng phân bón cho bà con nông dân” - ông Bùi An Khang – Phòng Nông nghiệp huyện Gia Viễn Ninh Bình cho biết. Kết quả đối với giống lúa TBR 25 vụ xuân 2014 trên đồng ruộng xã Đông La Đông Hưng, Thái Bình cho thấy: Phân bón NPK chuyên dụng Ninh Bình cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây sinh trưởng phát triển, cây lúa khỏe, cứng cây, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, cho năng suất cao hơn phân bón đơn. So với phân bón đơn, năng suất đạt 74,2 tạ/ha, cao hơn 3,7 tạ/ha và lợi nhuận cũng cao hơn so với phân bón đối chứng là gần 3,2 triệu đồng/ha. Trao đổi với NTNN, ông Phạm Mạnh Ninh - Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Công ty CP Phân lân Ninh Bình cho biết, công ty hiện có 2 sản phẩm chủ lực là phân lân nung chảy và phân lân đa dinh dưỡng NPK. Phân lân Ninh Bình có đặc điểm riêng là hạt phân không tan trong nước mà tan hết trong môi trường đất và dịch rễ cây tiết ra nên không bị rửa trôi, không để lại cặn bã có hại trong đất, không gây ô nhiễm môi trường, tác dụng của phân trong suốt quá trình phát triển của cây trồng, càng bón qua các mùa vụ càng thấy tốt, phù hợp với xu hướng canh tác nông nghiệp bền vững. Để giúp nông dân mua được phân bón đảm bảo chất lượng, công ty đang kết hợp với Sở NNPTNT các tỉnh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ triển khai nhiều mô hình khảo nghiệm, đồng thời hỗ trợ nông dân về kỹ thuật bón phân đúng cách để đảm bảo hiệu quả tối đa cho từng loại cây trồng” -ông Ninh nói. Ông Trần Đình Toàn – Phó Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Ninh Bình cho biết, Sở đã chỉ đạo các địa phương phối hợp với Công ty CP Phân lân Ninh Bình triển khai khảo nghiệm một số phân bón mới, trong đó thử nghiệm nhiều loại phân bón tổng hợp trên nhiều giống cây trồng mới, giống lúa mới và trên các chân đất khác nhau, như: Phân hỗn hợp NPK 5.12.3; NPKS 6.12.2.2; NPK 10.10.5; NPKS 17.5.16.1 dạng 3 màu, lân từ lân nung chảy; NPKS 5.10.3-8; NPKS6.10.2-13; NPK12.2.10+TE dạng 1 màu, lân từ lân tan nhanh… Hiện phần lớn diện tích lúa chưa thu hoạch nhưng đánh giá sơ bộ ban đầu cho thấy sử dụng các loại phân khảo nghiệm của Công ty CP Phân lân Ninh Bình cho cây lúa tốt, ít sâu bệnh, bông lúa dài, hứa hẹn một mùa vụ thắng lợi cho bà con nông dân” - ông Toàn nói. Cũng theo ông Toàn, sau khi thu hoạch lúa vụ này, Sở NNPTNT sẽ phối hợp với các địa phương và phía công ty đánh giá đối chứng và tiếp tục khảo nghiệm thêm 5 vụ, nếu kết quả tốt sẽ hướng dẫn cho các địa phương nhân rộng các mô hình này. Ông Phạm Mạnh Ninh - Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Công ty CP Phân lân Ninh Bình cho biết: Năng lực sản xuất của công ty là 300.000 tấn phân lân nung chảy FMP, 150.000 tấn phân đa dinh dưỡng NPK/năm. Với công nghệ sản xuất bằng phương pháp nhiệt, FMP Ninh Bình cung cấp chất dinh dưỡng lân P2O5 hữu hiệu 15-19% cho cây trồng, là chất chủ yếu tạo nên các tế bào cây cối, thúc đẩy sự nảy mầm, phát triển của bộ rễ, tăng số lượng, chất lượng hạt, củ, quả”.. Tôi là Võ Văn Thưởng - Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam vovanthuong22@gmail.com xin hỏi: Gia đình tôi canh tác 9 sào lúa, được biết Cty CP Phân bón Văn Điển có phân NPK chuyên dùng tốt cho cây lúa. Đề nghị Cty cho biết cách sử dụng vụ HT và mua phân bón này ở đâu? TGĐ Cty Văn Điển Hoàng Văn Tại giải đáp khách hàng về phân bón Văn Điển tại Quảng Nam Trả lời: Cty CP Phân lân nung chảy Văn Điển đã SX trên 60 loại phân bón NPK chuyên dùng cho từng loại cây trồng. Trong đó có phân chuyên dùng cho cây lúa. Vụ ĐX 2011 - 2012, Cty Văn Điển phối hợp với Liên hiệp HTX TM & ĐT Quảng Nam triển khai thực nghiệm phân bón NPK Văn Điển chuyên dùng cho cây lúa tại 6 xã thuộc 3 huyện của tỉnh Quảng Nam trên các giống lúa XI23, ĐV108, KD18, DT34, CNR208... Đại diện cho các vùng đất tốt như Điện Bàn, Duy Xuyên; vùng đất xấu, mỏng màu như Núi Thành, TP Tam Kỳ. Kết quả là lúa sinh trưởng khỏe, chống đổ ngã tốt, rất ít sâu bệnh, hầu như không phải dùng đến thuốc BVTV, năng suất cao hơn từ 15 - 18% so với các loại phân thông thường. Đặc biệt cả vụ lúa chỉ bón có 3 lượt đó là bón lót trước sạ giống, bón thúc 1, thúc 2 sau sạ giống, đã tiết kiệm gần 100.000 đ tiền phân bón/sào và hiệu quả kinh tế tăng thêm 322.000 đ/sào. Từ kết quả vụ ĐX năm 2011 - 2012, vụ HT 2012 đã có 18 xã thuộc các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình với hàng nghìn bà con nông dân sử dụng phân bón NPK Văn Điển kết quả rất khả quan; cây lúa khỏe, ít đổ ngã, sâu bệnh rất ít, cứng cây, lá dày, trỗ thoát nhanh, chín tập trung và cho năng suất cao hơn phân bón thông thường từ 10 - 15%. Phân NPK Văn Điển chuyên dùng cho cây lúa có 2 loại: Loại chuyên dùng bón lót NPK 10.12.5 hàm lượng dinh dưỡng có N = 10%; P2O5 = 12%; K2O = 5%; các chất trung lượng: S = 3%; MgO = 8%; CaO = 16%; SiO2 = 7%; các chất vi lượng B, Zn, Cu, Co, Mn... Tổng dinh dưỡng trên 69%. Phân chuyên dùng bón thúc lúa NPK 16.5.17 hàm lượng dinh dưỡng có N = 16%; P2O5 = 5%; K2O = 17%; các chất trung lượng: S = 2%; MgO = 5%; CaO = 8%; SiO2 = 7%; các chất vi lượng B, Zn, Cu, Co, Mn... Tổng dinh dưỡng trên 60%. Cách bón phân NPK Văn Điển cho lúa HT tại Quảng Nam: Bón lót NPK 10.12.5 Văn Điển lượng bón từ 20 - 25 kg/sào kết hợp với phân hữu cơ bón phân sâu, rải phân trước khi sạ giống. Sau sạ giống 8 - 10 ngày bón thúc đợt 1 lượng bón từ 4 - 5 kg/sào. Sau sạ giống 18 - 20 ngày bón thúc đợt 2 lượng bón từ 10 - 12 kg/sào. Phân bón NPK Văn Điển chuyên dùng bón cho lúa ngoài đạm N, lân P, kali K trong phân còn chứa các chất trung lượng như vôi, khử chua, khử độc hữu cơ do rơm rạ phân hủy từ vụ ĐX làm cho cây lúa phát triển nhanh, chất silic giúp cho cây lúa cứng cây dày lá, chống đổ, chống sâu bệnh, chất ma nhê và lưu huỳnh làm cho cây lúa tăng cường chất diệp lục, tăng hiệu suất quang hợp, các chất vi lượng giúp cho cây lúa khỏe, có sức đề kháng tốt, tích lũy nhiều chất dinh dưỡng và tăng chất lượng lúa gạo. Phân bón NPK Văn Điển cân đối đầy đủ dinh dưỡng cung cấp cho cây lúa đủ ăn cả vụ, không phải bón thêm đạm và các loại phân bón khác. Sử dụng NPK Văn Điển chuyên dùng cho vụ HT, lúa có màu lá xanh sáng, phiến lá dày, bẹ, phiến lá cứng, chống chịu được các điều kiện ngoại cảnh, thời tiết bất lợi. Lúa cho năng suất cao và chất lượng gạo được cải thiện. Ông Võ Văn Thưởng có thể liên hệ để mua phân bón NPK Văn Điển chuyên dùng cho cây lúa qua nhà phân phối độc quyền tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên: Xí nghiệp Kinh doanh & SX VTNN. ĐC: Số 757, đường Nguyễn Hữu Thọ, TP Đà Nẵng. ĐT: 05113.879.558. Chúc gia đình ông có mùa vàng bội thu! Mọi ý kiến về phân bón Văn Điển xin gửi về địa chỉ hộp thư điện tử thunxkn@gmail.com CÔNG TY CP PHÂN LÂN NUNG CHẢY VĂN ĐIỂN - Đơn vị đạt 4 danh hiệu Anh hùng - Giải thưởng tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO - DN Phân bón duy nhất đạt TOPTEN Thương hiệu Việt 2011 - TOPTEN Sản phẩm vàng Việt Nam 2012 - Địa chỉ: Đường Phan Trọng Tuệ, huyện Thanh Trì, Hà Nội - Điện thoại: 043.688.4489 - Fax: 043.688.4277 - Website: vafco.vn. Hỗ trợ phân bón hợp quy, phân bón npk cho ngông dân Lý Sơn bị thiệt hại do bão số 11. Trong đợt này có 400 hộ dân trên đảo được nhận phân bón hỗ trợ từ công ty mỗi hộ 25kg, trị giá 285.000đồng, để khẩn trương khắc phục hậu quả sau bão tái sản xuất vụ tỏi đông xuân. Tổng giá trị của đợt hỗ trợ là 114 triệu đồng. Ông Lương Anh Tuấn - đại diện lãnh đạo công ty CP phân bón và hóa chất dầu khí Miền Trung cho biết - đây là việc làm thiết thực, nhằm chia sẻ với khó khăn của nông dân trên đảo bị mưa bão làm thiệt hại hoa màu, tài sản. Sau đợt hỗ trợ này công ty sẽ tiếp tục thực hiện chương trình an sinh xã hội tại huyện đảo. Được biết, trong cơn bão số 11 vừa qua, huyện Lý Sơn có trên 150ha hành vụ thu đông bị hư hại, ngoài ra nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp sản xuất vụ tỏi đông xuân vừa cải tạo xong bị mưa bão cuốn trôi, ước thiệt hại về nông nghiệp trên 31 tỉ đồng. Ngoài ra, các cấp Hội đã ủy thác với Ngân hàng CSXH giúp gần 26.000 hộ hội viên vay gần 367 tỷ đồng để đầu tư sản xuất... Theo tập hợp của Hội ND tỉnh, đến hết tháng 6 đã có trên 55.000 hộ hội viên ND đăng ký sản xuất kinh doanh giỏi năm 2012.Thanh Ngọc. Cũng theo Bộ Công Thương, 5 tháng đầu năm 2014, sản lượng phân đạm urê ước đạt 938,9 nghìn tấn, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2013; phân NPK khoảng 970,9 nghìn tấn giảm 1,3% so cùng kỳ; phân lân Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đạt 677,4 nghìn tấn tăng 2,1% so với cùng kỳ; phân bón DAP Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đạt 99,9 nghìn tấn, giảm 6,2%. Nhập khẩu phân bón 5 tháng đầu năm 2014 cũng giảm 7,0% về số lượng và giảm 30,6% về trị giá. Từ đầu năm 2014, thị trường phân bón trong nước không có nhiều biến động do nguồn cung phân bón dồi dào. Nhu cầu phân urê tăng tại các khu vực đang xuống giống vụ Hè Thu An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, còn tại các khu vực khác nhu cầu không cao. Nguồn cung urê trên thị trường dồi dào, mùa vụ không tập trung, giá bán ổn định. Linh Đan .


hợp quy phân bón Sản phẩm NPK Lam Sơn khi đưa vào sử dụng đạt năng suất cao và thân thiện với môi trường bởi trong quá trình sản xuất không có chất thải, sản xuất không cần nước, không có chất thải nóng… Năm 2013, công ty được trao các cup: Vì môi trường xanh quốc gia”; Sản phẩm uy tín 2013”, Nhãn hiệu nổi tiếng”; Sản phẩm chất lượng vàng”. TS Lê Hưng Quốc đánh giá, phân bón NPK Hữu Cơ Thiên Hòa Grow-Mix phù hợp với cây chè Việt Nam là lựa chọn tốt để cải tạo, nâng cao năng suất chất lượng các vườn chè, nâng cao năng lực cạnh chanh của chè Việt trên thế giới. LĐ - Theo quy định, phân bón kém chất lượng được trả cho nhà sản xuất để tái chế, nhưng lô hàng này không có tên và địa chỉ của nhà sản xuất. Đ.T.K. Nhà máy có công suất 400.000 tấn phân bón NPK /năm với tổng vốn đầu tư gần 300 tỷ đồng. Đây là dự án đầu tiên của Bình Điền tại thị trường phía Bắc và là 1 trong 7 dự án xây dựng nhà máy phân bón của Tập đoàn hóa chất Việt Nam từ nay đến năm 2015 nhằm hướng tới mục tiêu đạt 8 triệu tấn phân bón/năm, góp phần cung ứng đủ hop quy, phan bon npk phân bón cho thị trường trong nước. Nhà máy phân bón Bình Điền- Ninh Bình được chia làm hai giai đoạn. Trước mắt Nhà máy tập trung vào giai đoạn 1 công suất 200.000 tấn sử dụng công nghệ urê hóa lỏng được xem là công nghệ sản xuất NPK tiến tiến nhất hiện nay. Công nghệ này cho phép sản xuất phân bón NPK với hàm lượng dinh dưỡng cao, bổ sung thêm nhiều dinh dưỡng thiết yếu đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng. Dự kiến năm 2014, nhà máy Bình Điền - Ninh Bình sẽ đưa sản phẩm ra thị trường. Được biết, Công ty cổ phần Phân bón Bình Điền là một trong những đơn vị có sản lượng và doanh thu lớn nhất Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất phân bón NPK cao cấp. Hàng năm, Công ty sản xuất gần 1 triệu tấn phân bón NPK các loại, doanh thu hơn 500 triệu USD và được xuất khẩu đi một số nước như Thái Lan, Australia, Campuchia, Hàn Quốc, Myanmar... Bình Điền phấn đấu đến năm2015 sẽ cung ứng ra thi trường 1,5 triệu tấn phân bón NPK các loại, với chất lượng cao, giá thành hợp lý,góp phần vào sự phát triển nông nghiệp của nước nhà../.. Cà phê, một trong những loại cây rất ưa phân NPK dạng hạt - ảnh Internet Ông Khản cũng cho biết: Mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất phân bón NPK một hạt được Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh phối hợp với Công ty CP Bình Điền Lâm Đồng triển khai từ đầu quý I đến quý III/2012 thì hoàn thành và đưa vào vận hành. Mô hình có tổng vốn đầu tư 19,16 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn khuyến công quốc gia hỗ trợ 250 triệu đồng. Triển khai đề án, công ty đã đầu tư và lắp đặt mới dây chuyền sản xuất phân NPK một hạt với công suất 50.000 tấn/năm, bao gồm nhiều thiết bị như: Máy sấy, máy tạo hơi nước thùng quay, máy làm bóng sản phẩm, máy trộn nguyên liệu, hệ thống định lượng trái khế, máy phân loại, máy nghiền hạt to, bunke sản phẩm và hồi lưu...Cùng với đó, nhiều thiết bị nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường trong sản xuất và kiểm soát phát thải ra môi trường tự nhiên cũng được DN đồng bộ hóa như: Cyclone lắng bụi chùm sáu, quạt hút bụi máy sấy nóng, ống khói máy sấy lạnh, đường ống công nghệ cho dây chuyền... Thời điểm hiện tại, mô hình đã được chạy thử không tải và đưa vào vận hành, dự kiến sau khi hoạt động ổn định dây chuyền sản xuất phân NPK dạng một hạt sẽ cung cấp cho thị trường 50.000 tấn/năm, với mức giá 8.800 đồng/kg như hiện nay doanh thu của công ty sẽ đạt 440 tỷ đồng, tỷ suất lợi nhuận sẽ tăng trên 43%/năm và trên 100 lao động địa phương sẽ được tạo việc làm. Thế nhưng, theo nhận định của ông Khản: Hiệu quả về kinh tế mà mô hình đã đem lại cho Công ty CP Bình Điền Lâm Đồng là những lợi ích hiện hữu và có thể định lượng được nhưng với những ưu điểm vượt trội về môi trường, về đặc điểm cũng như nhu cầu sản phẩm NPK dạng hạt mô hình sẽ là nền tảng căn bản cho DN hướng tới sự phát triển bền vững. Đây mới thực sự là điều đáng bàn bởi khác với nhiều loại phân bón dạng trộn, phân bón đa thành phần NPK dạng hạt có thể kết hợp các chất vi dinh dưỡng và các tác nhân gây ức chế nitrat. Các chất vi dinh dưỡng dạng bột được bọc phủ và phối trộn trong phân NPK dạng hạt làm giảm khả năng kết tụ-trong khi chính hiện tượng kết tụ này là nhược điểm cơ bản của phân NPK dạng trộn. Theo đó, sản phẩm NPK dạng hạt có nhiều ưu điểm như: tăng sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh, tăng năng suất, chất lượng nông sản và cải thiện độ phì của đất. Hiện nhu cầu sử dụng phân NPK dạng hạt thay cho phân dạng trộn theo tập quán cũ của người dân vùng Tây Nguyên đang có xu hướng gia tăng. Đáng lưu ý, với diện tích cây trồng tương đối lớn, đặc biệt là những loại cây công nghiệp như cà phê, điều….nhu cầu sử dụng phân NPK hàng năm của cả vùng Tây Nguyên là 400.000 tấn, riêng Lâm Đồng là 130.000 tấn. Như vậy, với công suất 50.000 tấn/năm dây chuyền sản xuất phân NPK dạng hạt của Công ty CP Bình Điền Lâm Đồng chỉ giải quyết được khoảng 1/3 nhu cầu của tỉnh do đó tiềm năng thị trường của phân NPK dạng hạt còn rất lớn. Đồng thời, với những thiết bị công nghệ cao, dây chuyền sản xuất mới đã giúp DN giảm thiểu tối đa tiếng ồn, giảm thiểu tối đa bụi phát tán vào không khí, hạn chế sự bay hơi gây mùi của nguyên liệu và kiểm soát tốt những phát thải ra môi trường…qua đó đảm bảo an toàn vệ sinh lao động trong sản xuất và khắc phục nhược điểm gây ô nhiễm môi trường-một hạn chế lớn mà công ty đã gặp phải nhiều năm qua. Có thể nói, hiệu quả mà mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất phân NPK đã mang lại cho Công ty CP Bình Điền Lâm Đồng không chỉ là những lợi ích về kinh tế mà với những ưu điểm vượt trội về môi trường, về sản phẩm kết hợp với nhu cầu ngày một tăng, mô hình đã tạo nên nền tảng cho DN hướng tới sự phát triển bền vững./. Việt Nga. Nông dân rất phân vân khi chọn mua phân bón NPK Chỉ trong một tuần ra quân kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật trong hoạt động SXKD phân bón, đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Trà Vinh đã lấy 37 mẫu phân hữu cơ và vô cơ gửi đi kiểm nghiệm. Kết quả, có 5 mẫu phân hữu cơ, 3 mẫu phân vô cơ không đạt chất lượng so với tiêu chuẩn công bố. Sản phẩm phân vô cơ của các Cty sản xuất không đảm bảo chất lượng gồm: Phân bón NPK cao cấp JAPAN 23 - 23 - 0 - 10 SiO2 + TE do Cty CP phân bón Phúc Hưng số 19 Liên khu 2 – 5, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, TP.HCM sản xuất. Phân bón NPK cao cấp 20 - 20 - 15 + TE do Cty TNHH MTV Phạm Hoàng số 34 quốc lộ 30 xã An Bình, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp sản xuất. Phân bón NPK cao cấp 20 - 20 - 15 + TE của Cty TNHH SXTMDV XNK Việt Quang số 297A khu phố 3, phường Tân Phú, TP Bến Tre. Đối với phân hữu cơ, trong đợt ra quân cuối tháng 8/2014, Đoàn thanh tra Sở NN-PTNT đã phát hiện 5 mẫu không đạt chất lượng so với thành phần công bố trên bao bì. Trong số 5 mẫu kiểm tra không đạt thì có 3 mẫu của 3 Cty yêu cầu kiểm tra lại và chưa có kết quả. Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Công thương Trà Vinh cho biết: Sở Công thương quản lý phân bón vô cơ. Kế hoạch kiểm tra là không lên lịch, kiểm tra đột xuất ngay đầu vụ, lấy tất cả mẫu phân vô cơ và hữu cơ mang đi kiểm nghiệm. Kinh phí kiểm nghiệm hợp quy, phân bón npk ban đầu từ nguồn hoạt động của Sở Công thương. Trong quá trình đi kiểm tra lấy mẫu, trưởng đoàn để lộ thông tin là phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở. Khi có kết quả kiểm tra, sai phạm đối với phân vô cơ thì Sở Công thương xử phạt, phân hữu cơ thì Sở NN-PTNT xử phạt. Qua đợt ra quân kiểm tra đột xuất việc SXKD phân bón trên địa bàn Trà Vinh đã lộ rõ cơ chế quản lý chưa nghiêm. Mức phạt đối với một mẫu phân bón kém chất lượng, phân giả quá thấp. Để giảm được nạn gian lận thương mại trong việc sản xuất kinh doanh phân bón, trong thời gian tới, kiến nghị Bộ Công thương, Chính phủ xem xét có chế tài mạnh đối với những cơ sản sản xuất và rút giấy phép kinh doanh đối với đại lý tiêu thụ hàng gian, hàng giả, hàng kém chất lượng. Sở Công thương Trà Vinh đã gửi văn bản đến Sở Công thương các tỉnh có Cty sản xuất hàng giả, kém chất lượng để tiến hành kiểm tra và xử lý tại gốc. Tương tự như NPK 16-16-8-13 S trước đây, phân NPK 20-20-15 được gọi là công thức vàng” vì chúng sử dụng được cho nhiều loại cây trồng ở các giai đoạn sinh trưởng và phát triển khác nhau nên sản lượng tiêu thụ hàng năm ở ĐBSCL rất lớn. Trên thị trường bán lẻ hiện nay, đứng đầu bảng là NPK 20-20-15 + TE của Cty Phân bón Bình Điền có giá 710.000 đ/bao, sản phẩm cùng loại của những thương hiệu kém hơn được bán với giá 680.000 – 690.000 đ/bao, nhưng vẫn có những sản phẩm có bao bì rất đẹp của những công ty vốn là con đẻ của những đại lý cấp 1 chỉ bán với giá 560.000 – 580.000 đ/bao. Theo tính toán của nhà sản xuất, căn cứ vào giá nguyên liệu N, P, K thì nếu đảm bảo đủ hàm lượng và khối lượng, cho dù với công nghệ cuốc xẻng thì giá xuất xưởng phải là 620.000 đ/bao. Có sẵn hệ thống đại lý cấp 2, 3, lại thân thuộc nhiều với các cơ quan quản lý nhà nước do nhiều năm kinh nghiệm” nên các đại lý cấp 1 coi NPK 20-20-15 là mỏ vàng” tập trung khai thác bằng cách mở công ty sản xuất, thậm chí có đại lý ở Hậu Giang mở đến 2 công ty cùng lúc. Mặt phải và trái bao phân PHÂN KHOÁNG CAO CẤP 20-20-15+TE của Cty CP Hợp lực quốc tế Đăng ký công ty, đăng ký nhãn hàng xong họ cũng chẳng cần mở xưởng mà hầu hết đặt gia công cho những công ty khác đã có sẵn thiết bị, nhà xưởng nhưng ra hàng không được” vì không chịu nổi áp lực cạnh tranh. Khu công nghiệp Tân Kim Long An có hơn 10 công ty chuyên sản xuất phân bón nhưng có đến phân nửa chuyên nhận hàng gia công. NPK 20-20-15 kém chất lượng đã bóp nghẹt phân đúng chất lượng. Trong tất cả các nhà sản xuất có sản lượng tiêu thụ lớn ở ĐBSCL trước đây như phân bón Con Ó, phân bón Năm Sao, phân bón Việt Nhật, phân bón Đầu Trâu, phân bón Con Cò thì trụ lại được vững chắc ở thị trường này hiện chỉ còn mỗi phân bón Bình Điền và con đường xuất khẩu được lựa chọn thay cho thị trường trong nước. Tại sao nông dân không phân biệt được hàng kém chất lượng? Một điều tra của Đại học Cần Thơ cho thấy, có đến 70% nông dân quyết định mua phân bón và thuốc BVTV theo chỉ dẫn của đại lý, đấy là chưa kể tâm lý mua nợ cuối mùa trả hiện đang phổ biến. Một công ty nhỏ chuyên phân phối VTNN cho biết: Phải tìm nguồn hàng sao cho mỗi bao phân đại lý lời được 40.000-50.000 đ thì họ mới nhận. Theo tính toán của họ, sản xuất phân kém chất lượng thì nhà sản xuất lời 1 triệu/tấn, đại lý lời 1 triệu/tấn. Nếu bị bắt mà không chạy thuốc” được họ chỉ bị phạt 50 triệu/vụ. Mỗi lô hàng thường là 100 tấn nên họ vẫn yên tâm sản xuất”. Mặt khác, người nông dân còn bị đại lý qua mặt vì mẫu mã của họ đều rất đẹp. Sản phẩm NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu, đơn vị sáng tạo và tiên phong công thức phân bón này, là phân trộn có 4 viên 4 màu gồm: trắng đục của urê, xanh hay đen của DAP, đỏ nâu của kali và 1 viên nhỏ màu tím của trung và vi lượng. Bắt chước Bình Điền, phân kém chất lượng hiện nay cũng có 4 màu, thậm chí 5 màu nhưng màu tím hoặc nâu, hoặc xám không phải trung vi lượng mà là viên Jeolite được sản xuất tại Phú Yên có giá rất rẻ. Jeolite có thành phần chính là là ô xít Silic và ô xít nhôm nên cũng được các đại lý gọi là trung vi lượng. Đặc biệt viên phân Vedagro có màu đen và kích thước giống hệt viên DAP của Mỹ nên khi mở bao phân ra vẫn có 3 viên 3 màu rất đẹp, vậy là nông dân sập bẫy. Nếu đúng là hạt jeolite cũng là còn may, vì nhiều mẫu phân hạt này không phải là jeolite mà là cao lanh đất sét trắng, đã có các công ty ở Tân Uyên, Bình Dương chuyên sản xuất viên cao lanh đi bỏ mối. Theo công thức hóa học, thì tỷ lệ viên thứ 4 này không thể quá 5%, nhưng đa số phân NPK 20-20-15 của các công ty nhỏ hiện nay đều có tỷ lệ viên thứ 4 lên đến 10, thậm chí 15-20%. Đấy là cơ sở để họ bán giá rất thấp nhưng vẫn lời khẳm. Không những làm kém chất lượng, họ còn đánh lừa nông dân một cách trắng trợn. Sản phẩm PHÂN KHOÁNG CAO CẤP 20-20-15+TE sản xuất theo công nghệ Thái Lan của Cty CP Hợp lực quốc tế ở khu Cầu Xéo, thị trấn Long Thành, Đồng Nai có bao bì hoành tráng in bằng 2 thứ tiếng – Việt và Thái. Với kiểu bao bì trên người tiêu dùng cứ tưởng rằng đấy là NPK 20-20-15 nhưng thực chất chỉ có 20N, 15K 2 O còn 20 kia là hữu cơ. Cách thức trộn hữu cơ cũng vô cùng đơn giản bằng cách họ mua phân hữu cơ Vedagro của Vedan làm từ chất thải trong quá trình sản xuất bột ngọt. Vedagro không những có hàm lượng hữu cơ rất cao 46% mà còn chứa nhiều vi lượng nên nhà sản xuất cũng gọi là + TE. Có 2 loại tỏi: Tỏi ta và tỏi tây. Tỏi ta Allium sativum L. Là cây trồng lấy củ làm gia vị và làm thuốc, họ hành tỏi Laliaceae spp.. Nguồn gốc ở miền Tây châu Á, được trồng cách đây 2.000 năm. Các dạng hoang dại hiện còn tìm thấy ở Apganixtan, Iran, nơi có nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các mùa chênh lệch nhau rõ rệt. 2. Giống tỏi Các giống tỏi địa phương có tỏi gié, tỏi trâu, trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Các tỉnh duyên hải miền Trung có trồng giống tỏi nhập nội, củ to gọi là tỏi tây nhóm Alliumporrum L.. Ở các vùng tỏi chuyên canh như Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang… nông dân thường trồng 2 giống tỏi nhập khẩu từ Trung Quốc là tỏi trắng và tỏi tía. Tỏi trắng có đặc điểm lá xanh đậm, to bản, củ to. Đường kính củ đạt tới 4-4,5 cm. Khi thu hoạch vỏ lụa củ màu trắng. Giống tỏi này có khả năng bảo quản kém, hay bị óp. Tỏi tía, lá dày, cứng, màu lá xanh nhạt. Củ chắc và cay hơn tỏi trắng. Dọc thân gần củ có màu tía. Khi thu hoạch có màu trắng ngà. Mỗi củ có 10 - 11 nhánh. Đường kính củ 3,5 - 4 cm. Giống này được trồng nhiều hơn tỏi trắng. Năng suất của 2 giống tỏi trên đạt trung bình 8-10 tấn củ khô/ha 300 - 400 kg/sào Bắc bộ. 3. Kỹ thuật trồng 3.1. Thời vụ Ở đồng bằng sông Hồng, tỏi nằm trong công thức luân canh giữa 2 vụ lúa nên thời vụ thích hợp để trồng là 25/9 - 5/10, thu hoạch 30/1 - 5/2 vẫn đảm bảo đủ thời gia sinh trưởng và không ảnh hưởng đến thời vụ của lúa. Tuy nhiên, vì không có thời gian cho đất nghỉ nên việc làm đất phải tính toán từ chọn ruộng trồng đến chủ động chế độ nước cho lúa. Nếu để tỏi giống với thời gian sinh trưởng trên 140 ngày, tỏi phải trồng trên đất bãi ven sông, không cấy lúa xuân. Ở khu vực miền Trung, tỏi trồng vào tháng 9 - 10, thu hoạch củ vào tháng 1 - 2. 3.2. Làm đất, trồng củ Đất trồng tỏi chọn chân vàn cao, dễ thoát nước sau khi gặt xong lúa mùa sớm, làm đất kỹ và lên luống ngay để tránh gặp mưa muộn. Luống rộng 1,2 - 1,5 m, rãnh 0,3 m. Sau khi lên luống, rạch hàng bón phân. Mỗi luống trồng 5 - 6 hàng, khoảng cách hàng 20 cm. Đảo Lý Sơn Quảng Ngãi là vùng trồng tỏi nổi tiếng của nước ta, do luân canh nhiều vụ/năm nên đất nhanh hết dinh dưỡng, phải thay đất mới. Muốn SX, nông dân phải bồi lên trên 1 lớp đất thịt dày khoảng 2 cm. Sau khi đầm chặt lớp đất thịt, tiếp tục rải lên 1 lớp phân chuồng, sau đó phả lên 1 lớp cát được lấy từ biển cũng dày khoảng 2 cm rồi mới trồng tỏi. Lớp đất thịt có nhiệm vụ nuôi bộ rễ và bổ sung cho cây tỏi một số vi lượng. Còn lớp cát đá vôi được lấy từ biển trộn lẫn san hô vỡ vụn ở trên mặt tạo độ xốp giúp cho củ tỏi phát triển, nở to. Tỏi giống chọn những nhánh từ củ chắc, khối lượng củ 12 - 15 gr, có 10 - 12 nhánh. Mỗi ha cần 1 tấn tỏi giống 37 kg/sào Bắc bộ, khoảng cách trồng mỗi nhánh 8 -10 cm, ấn sâu xuống đất 2/3 nhánh tỏi, phủ đất nhỏ lên trên. Sau khi trồng, dùng rơm rạ băm nhỏ phủ một lớp dày 5 cm để giữ ẩm và hạn chế cỏ mọc 3.3. Bón phân NPK-S Lâm Thao Tính theo một sào Bắc bộ là 360 m2 + Bón lót: Phân chuồng 700 - 800 kg nếu đất chua bón thêm 20 kg vôi bột. NPK-S 5.10.3-8 bón 24 - 26 kg + Bón thúc 1 sau trồng 14 - 21 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 7 - 8 kg. + Bón thúc 2 sau đợt 1 khoảng 20 - 25 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 7 - 8 kg. + Bón thúc 3 sau đợt 2 khoảng 15 - 20 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 7-8 kg. Tính cho 1 ha: + Bón lót, rải đều theo hàng và trộn kỹ: Phân chuồng 15.000 -20.000 kg nếu đất chua bón thêm 500 kg vôi bột. NPK-S 5.10.3-8 bón 660 - 720 kg. + Bón thúc 1 sau trồng 14-21 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 190-220 kg. + Bón thúc 2 sau đợt 1 khoảng 20 - 25 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 190 - 220 kg. + Bón thúc 3 sau đợt 2 khoảng 15 - 20 ngày: NPK-S 12.5.10-14 bón 190 - 220 kg. 3.4. Chăm sóc Tưới nước đều đến khi cây mọc và khi có 3 - 4 lá thật thì tưới nước rành, thấm lên dần. Cả thời gian sinh trưởng tưới 4 - 5 lần. Trước mỗi lần tưới rãnh nên kết hợp bón thúc phân NPK-S Lâm Thao 12.5.10-8. Cây tỏi thường bị các bệnh như: bệnh sương mai Peronospora destructor Unger, bệnh than đen Urocystis cepula Porost. Cần sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được cho phép đối với từng bệnh. Củ thương phẩm thu hoạch sau khi trồng 125 - 130 ngày lúc lá đã già, gần khô. Chúc bà con nông dân đạt nhiều thành công trong vụ trồng tỏi sắp tới khi sử dụng phân NPK-S Lâm Thao.

.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét